Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 09 tháng 01 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/2001/CT-TTg về việc thực hiện Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các quy định mới về công chứng, chứng thực, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế và thúc đẩy cải cách hành chính tư pháp. Đối tượng áp dụng của Chỉ thị bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã), các tổ chức hành nghề công chứng và các cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp thực hiện công tác công chứng, chứng thực trên phạm vi cả nước. Để bảo đảm Nghị định số 75/2000/NĐ-CP được thực hiện nghiêm túc và thống nhất, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung thực hiện các nội dung cốt lõi sau: - Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng pháp luật về công chứng, chứng thực

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi nội dung của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP. Hoạt động này nhằm nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức và người dân về vai trò, ý nghĩa của công chứng, chứng thực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch, ngăn ngừa tranh chấp pháp lý.

- Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ Công chứng viên
  • Bộ Tư pháp khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn về tiêu chuẩn nghiệp vụ, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm Công chứng viên và quy chế mẫu về tổ chức, hoạt động của Phòng Công chứng.
  • Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu, nâng cao trình độ pháp lý và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Công chứng viên, cán bộ tư pháp cấp huyện và cấp xã.
  • Rà soát, củng cố các Phòng Công chứng hiện có, bảo đảm bố trí đủ nhân lực và trang thiết bị làm việc để giải quyết kịp thời nhu cầu của người dân, khắc phục triệt để tình trạng chậm trễ, phiền hà.
- Phân định rõ thẩm quyền và chuyển giao hợp lý nhiệm vụ chứng thực
  • Thực hiện phân định rõ ràng giữa hoạt động công chứng (do Phòng Công chứng thực hiện) và hoạt động chứng thực (do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện) theo đúng quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP.
  • Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã chủ động thực hiện thẩm quyền chứng thực các giấy tờ, văn bản, chữ ký, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân thực hiện thủ tục ngay tại cơ sở, giảm tải áp lực cho các Phòng Công chứng.
  • Các Phòng Công chứng tập trung thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch phức tạp, đòi hỏi tính chuyên môn và trách nhiệm pháp lý cao.
- Tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm hỗ trợ, bố trí trụ sở làm việc thuận lợi, trang bị phương tiện làm việc hiện đại cho các Phòng Công chứng. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dữ liệu công chứng, chứng thực nhằm xây dựng hệ thống thông tin thông suốt, giúp tra cứu nhanh chóng và ngăn chặn các hành vi gian lận trong giao dịch tài sản.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
  • Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất đối với hoạt động công chứng, chứng thực tại các địa phương.
  • Kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, sách nhiễu, tiêu cực hoặc thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức, Công chứng viên trong quá trình giải quyết yêu cầu của người dân và doanh nghiệp.
- Hiệu lực thi hành

Chỉ thị 01/2001/CT-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này và định kỳ báo cáo kết quả về Bộ Tư pháp để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 01/2001/CT-TTg

Hà Nội, ngày 05 tháng 3 năm 2001

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC

Ngày 08 tháng 12 năm 2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001 để thay thế Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổ chức và hoạt động Công chứng nhà nước. Để triển khai thực hiện nghiêm chỉnh Nghị định này, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

I. Tổ chức việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến công chứng, chứng thực; ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định về công chứng, chứng thực.

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tiến hành việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành do Bộ, ngành, địa phương mình ban hành và hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ các văn bản có liên quan không còn phù hợp với Nghị định mới về công chứng, chứng thực; báo cáo kết quả cho Bộ Tư pháp trước ngày 31 tháng 3 năm 2001.

Riêng về việc sao y giấy tờ, Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ tiến hành rà soát để hủy bỏ các quy định bắt buộc người dân phải nộp bản sao giấy tờ do Phòng Công chứng chứng nhận trong hồ sơ tuyển sinh, tuyển dụng, bổ nhiệm, tuyển lao động, giải quyết chính sách...; Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn các trường học, cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước về việc cấp bản sao văn bằng, chứng chỉ và các giấy tờ khác từ sổ gốc, không dồn công việc cho cơ quan công chứng, chứng thực. Cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận giấy tờ xét thấy cần bản chính để đối chiếu, thì phải tự mình đối chiếu bản chụp với bản chính.

2. Từ nay đến hết quý I năm 2001:

- Bộ Tư pháp ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định về công chứng, chứng thực; hướng dẫn việc sử dụng thống nhất các sổ công chứng, sổ chứng thực, quy định và hướng dẫn việc sử dụng mẫu hợp đồng, giao dịch thông dụng và mẫu nội dung lời chứng;

- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch về lệ phí công chứng, chứng thực và chi phí khác theo quy định tại Điều 16 của Nghị định về công chứng, chứng thực;

- Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến chế độ lương đối với công chứng viên tại Nghị định số 25/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang, trình Chính phủ xem xét, ban hành.

II. Kiện toàn tổ chức, bảo đảm về nhân sự và cơ sở vật chất cho hoạt động công chứng, chứng thực.

1. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành rà soát lại tổ chức, biên chế, trụ sở, phương tiện làm việc và cơ sở vật chất của các Phòng Công chứng hiện có tại địa phương mình. Trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày Nghị định về công chứng, chứng thực có hiệu lực, phải thực hiện xong việc kiện toàn, sắp xếp lại, bảo đảm cho các Phòng Công chứng có đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại Điều 26 của Nghị định về công chứng, chứng thực; những nơi còn thiếu so với nhu cầu, thì ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập thêm Phòng Công chứng bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện yêu cầu công chứng của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức tại địa phương mình. Việc phân chia thẩm quyền địa hạt giữa các Phòng Công chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định về công chứng, chứng thực phải được thực hiện xong trước ngày 31 tháng 3 năm 2001.

Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính chuẩn bị đề án tiếp tục triển khai Dự án tin học hoá công chứng đến các Phòng Công chứng còn lại trong cả nước, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh bố trí cán bộ tư pháp có trình độ cử nhân Luật chuyên trách thực hiện công tác chứng thực ở cấp huyện, đồng thời bố trí ổn định người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 và Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 1998 giúp ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong công tác chứng thực; việc đăng ký chữ ký tại Sở Tư pháp của những người thực hiện chứng thực theo quy định tại khoản 2 Điều 22 và khoản 2 Điều 24 của Nghị định về công chứng, chứng thực phải được thực hiện xong trước ngày 31 tháng 3 năm 2001. ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện cần thiết cho hoạt động chứng thực của ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn.

3. Theo sự hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chấn chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực tại địa phương mình, không để hiện tượng ùn tắc, quá tải về hoạt động công chứng, chứng thực. Người thực hiện công chứng, chứng thực phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, không gây phiền hà, sách nhiễu cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức yêu cầu công chứng, chứng thực. Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm về chất lượng và lề lối hoạt động chứng thực tại địa phương mình.

III. Chuẩn bị Đề án thực hiện thí điểm việc chuyển hoạt động của một số Phòng Công chứng sang chế độ tự trang trải.

Bộ Tư pháp phối hợp với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành khảo sát, nghiên cứu và chuẩn bị Đề án thực hiện thí điểm việc chuyển hoạt động của một số Phòng Công chứng sang chế độ tự trang trải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định vào quý IV năm 2001.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 4 năm 2001.

Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này.

 

 

Phan Văn Khải

(Đã ký)

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 01/2001/CT-TTg thực hiện Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành

Số hiệu: 01/2001/CT-TTg
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 05/03/2001
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 08/04/2001
Số công báo: Số 13
Ngày hiệu lực: 05/03/2001
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Dịch vụ pháp lý
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 01/2001/CT-TTg thực hiện Nghị định 75...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký