Chỉ thị 03/BYT-CT được Bộ Y tế ban hành năm 1992 nhằm tập trung giải quyết, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động sản xuất, buôn bán thuốc giả, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và thiết lập lại trật tự kỷ cương trong ngành dược phẩm.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị này áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thuốc, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và tư nhân, cùng các cơ quan quản lý nhà nước về y tế trên phạm vi toàn quốc.
Đánh giá tình hình và mục tiêu cấp bách
- Nhận diện thực trạng sản xuất, lưu thông thuốc giả và thuốc kém chất lượng đang diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người bệnh và uy tín của ngành y tế.
- Xác định công tác đấu tranh phòng, chống thuốc giả là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và thường xuyên của toàn ngành y tế phối hợp với các lực lượng chức năng.
Các biện pháp xử lý hành vi vi phạm về thuốc giả
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra: Đẩy mạnh hoạt động của các đoàn thanh tra liên ngành, tiến hành kiểm tra đột xuất và định kỳ đối với các cơ sở sản xuất, đại lý bán buôn, nhà thuốc, quầy thuốc tư nhân nhằm phát hiện kịp thời các loại thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc.
- Xử lý nghiêm khắc các cơ sở vi phạm: Thực hiện đình chỉ hoạt động ngay lập tức đối với các cơ sở có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc buôn bán thuốc giả. Thu hồi giấy phép hành nghề dược và đề nghị cơ quan pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng.
- Tịch thu và tiêu hủy tang vật: Tiến hành tịch thu toàn bộ số lượng thuốc giả, nguyên liệu làm thuốc giả, bao bì, nhãn mác và các phương tiện, công cụ trực tiếp dùng để sản xuất thuốc giả để tiêu hủy theo đúng quy định an toàn của pháp luật.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý và đơn vị y tế
- Sở Y tế các tỉnh, thành phố: Chịu trách nhiệm toàn diện trong việc quản lý địa bàn, chủ động phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Quản lý thị trường, Hải quan và Ủy ban nhân dân các cấp để ngăn chặn thuốc giả ngay từ cửa ngõ biên giới và các đầu mối lưu thông.
- Các cơ sở điều trị và khám chữa bệnh: Phải thực hiện nghiêm ngặt quy chế quản lý dược chính, chỉ được mua và sử dụng thuốc từ các nguồn cung ứng hợp pháp, có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ; đồng thời kiểm tra chặt chẽ chất lượng cảm quan của thuốc trước khi cấp phát cho người bệnh.
- Công tác tuyên truyền và giáo dục: Đẩy mạnh công tác thông tin, hướng dẫn người dân và các cơ sở hành nghề y dược tư nhân cách nhận biết thuốc thật, thuốc giả; khuyến khích cộng đồng tích cực phát hiện và tố giác các hành vi gian lận, sản xuất, buôn bán thuốc giả.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Chỉ thị 03/BYT-CT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành năm 1992. Bộ Y tế yêu cầu Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Quản lý Dược, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ chịu trách nhiệm tổ chức triển khai, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo kết quả thực hiện định kỳ về Bộ Y tế.
| BỘ Y TẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/BYT-CT | Hà Nội, ngày 01 tháng 4 năm 1992 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC XỬ LÝ CÁC HÀNH VI VI PHẠM VỀ SẢN XUẤT, BUÔN BÁN THUỐC GIẢ
Sau hơn một năm thực hiện Thông tư Liên Bộ y tế - Nội vụ số 27/TT-LB ngày 24-12-1990, qua báo cáo của 48 địa phương, Bộ nhận thấy việc xử lý các hành vi vi phạm về sản xuất, buôn bán thuốc giả của hầu hết địa phương là chưa hợp lý, không có tác dụng răn đe, giáo dục; thể hiện qua số liệu thống kê sau đây:
- Số tỉnh có báo cáo xử lý 10 tháng 1991: 24
- Số vụ xử lý: 366
1. Truy tố : 2,5%
2. Thu giấy hành nghề : 7,6%.
3. Phạt tiền : 79,2%
4. Cho qua : 10,7%
Và ở một số địa phương gặp khó khăn lúng túng trong việc xử tang vật thu bắt: đôi khi sơ hở về mặt pháp lý. Để khắc phục tình trạng trên, Bộ chỉ thị các Sở Y tế thực hiện các quy định về việc xử lý các hành vi vi phạm về sản xuất, buôn bán thuốc giả như sau:
1. Tất cả các trường hợp có đủ chứng lý vi phạm về việc sản xuất, buôn bán thuốc giả đều phải được lập biên bản, xử lý nghiêm minh và bình đẳng đối với các đối tượng thành phần kinh tế: quốc doanh, tập thể, tư nhân.. không được bỏ qua bất kì trường hợp nào; xử lý xong phải báo cáo lên cơ quan y tế cấp trên để theo dõi và chỉ đạo.
1.1. Tất cả mọi trường hợp vi phạm về thuốc giả việc xử lý đầu tiên là thu hồi giấy chứng nhận hành nghề (do Sở Y tế cấp). Đối với cán bộ trong các đơn vị, cơ sở Nhà nước thì không được làm công việc liên quan đến thuốc: vĩnh viễn hoặc có thời hạn ít nhất là 06 tháng;
1.2. Phạt vi phạm hành chính theo các văn bản của Nhà nước, của Bộ hoặc của UBND thành, tỉnh hiện hành.
1.3. Trường hợp có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì phải truy tố theo Luật hình sự;
Như vậy không có trường hợp nào chỉ xử lý nội bộ hoặc bỏ qua.
2. Trường hợp phải truy tố theo Luật hình sự:
2.1. Chuyển hồ sơ chuyên môn về dược cho các cơ quan điều tra (có biên bản giao nhận).
2.2. Báo cáo diễn biến sự việc về Bộ để theo dõi và chỉ đạo.
3. Để phát huy tác dụng răn đe, giáo dục và tuyên truyền đến nhân dân, tất cả các trường hợp xử lý đều phải được thông báo trên các báo, đài và chính quyền sở tại biết; tránh trường hợp giấy phép hành nghề đã bị thu hồi, nhưng giấy phép kinh doanh vẫn tồn tại, đối tượng vẫn hoạt động bình thường.
4. Việc xử lý tang vật đã thu bắt:
4.1. Lấy mẫu và lưu mẫu đúng quy chế; các mẫu lưu này phải bảo quản ở các cơ quan có trách nhiệm đến khi vụ án hoặc quyết định xử lý hết hiệu lực.
4.2. Số tang vật còn lại do Giám đốc Sở Y tế quyết định hình thức thanh lý:
- Nếu là thuốc giả: Tổ chức huỷ, có sự giám sát của các cán bộ có trách nhiệm do Giám đốc Sở chỉ định.
- Nếu là thuốc mạo nhãn, thuốc không có số đăng ký, thuốc không còn nhãn gốc, thuốc không có địa chỉ sản xuất...mà chất lượng bên trong có thể sử dụng được thì đưa đi kiểm nghiệm, nếu đạt yêu cầu thì dựa vào thực trạng của lô thuốc mà xem xét xử lý hoặc thanh lýđúng quy chế, đảm bảo an toàn, chặt chẽ về pháp lý.
Trong khi xem xét, xử lý phải nắm vững luật lệ, quy chế và công minh, khách quan.
5. Qua báo cáo của nhiều địa phương, Bộ nhận thấy tình hình chấp hành quy định của Nhà nước và của Bộ về phòng chống thuốc giả chưa nghiêm túc do đó đã dẫn đến nhiều vụ thuốc giả bị lặp đi lặp lại nhiều lần (75% mẫu thuốc giả phát hiện được là do mua thuốc nội trôi nổi), lẽ ra có thể tránh được. Nay Bộ nhắc lại các địa phương có kế hoạch phổ biến kỹ các quy định hiện hành về phòng chống thuốc giả và kế hoạch kiểm tra, thanh tra, chấn chỉnh đối với tất cả cơ sở y tế và phối hợp với đội quản lý thị trườngđối với thị trường tự do trong toàn địa phương; trọng điểm là tuyến huyện, xã.
5.1. Cấm mua thuốc nội trôi nổi; phải mua thuốc của các đơn vị, cơ sở buôn bán thuốc hợp pháp, có hoá đơn của Bộ Tài chính phát hành và hoá đơn phải ghi số kiểm soát (số lô).
5.2. Tăng cường biện pháp quản lý: Nhãn, đồ bao gói từ khâu in ấn đến khi đã bán, phát hết thuốc (phải xé nhãn), các dụng cụ thiết bị dùng trong sản xuất thuốc.
5.3. Cấm mua bán thuốc không còn nhãn gốc, thuốc không có địa chỉ nơi sản xuất; thuốc không có số đăng ký; thuốc ký gửi không rõ nguồn gốc.
5.4. Các kho thuốc bệnh viện, công ty, xí nghiệp phải tổ chức kiểm kê, kiểm nhận thuốc thường kỳ, theo dõi chặt chẽ số kiểm soát, số đăng ký, có biên bản kết luận sau kiểm kê, kiểm nhận đầy đủ.
Nhận được Chỉ thị này, yêu cầu các đồng chí Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc các đơn vị trực thuộc truyền đạt đầy đủ tinh thần nội dung của Chỉ thị này để nhanh chóng lập lại trật tự thị trường thuốc và phòng chống thuốc giả theo Thông tư liên Bộ Y tế - Nội vụ số 27/TT-LB ngày 24-12-1990 đạt hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi của người dùng và lấy lại lòng tin của nhân dân đối với thuốc chữa bệnh.
|
| Phạm Song (Đã ký)
|