Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Chỉ thị 04/2003/CT-BYT

Chỉ thị 04/2003/CT-BYT được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành nhằm mục đích tăng cường các biện pháp chăm sóc trẻ sơ sinh, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh trên phạm vi cả nước. Đây là một văn bản chỉ đạo quan trọng, định hình các hoạt động chuyên môn và quản lý trong hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương đối với công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Bối cảnh ban hành và mục tiêu cốt lõi

Trong những năm qua, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ em tại Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh vẫn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các tai biến sản khoa, ngạt sơ sinh, nhiễm khuẩn, đẻ non, nhẹ cân và việc chăm sóc sơ sinh ngay sau đẻ chưa được thực hiện đúng quy trình kỹ thuật. Trước tình hình đó, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Chỉ thị này nhằm tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách sau:

  • Giảm nhanh tỷ lệ tử vong sơ sinh, đặc biệt là tử vong trong 24 giờ đầu sau sinh và tuần đầu sau sinh.
  • Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại tất cả các tuyến y tế, đặc biệt là tuyến cơ sở và vùng sâu, vùng xa.
  • Thống nhất và chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật chăm sóc sơ sinh thiết yếu trong toàn ngành y tế.

Nội dung chi tiết các chỉ đạo trọng tâm

- Củng cố mạng lưới và nâng cao năng lực hệ thống chăm sóc sơ sinh

Bộ Y tế yêu cầu Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ thực hiện ngay các biện pháp củng cố tổ chức:

  • Rà soát, củng cố và hoàn thiện mạng lưới chăm sóc sản khoa và sơ sinh từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, phường, thị trấn.
  • Đảm bảo các cơ sở y tế có đỡ đẻ phải có đủ cán bộ chuyên môn được đào tạo về chăm sóc sơ sinh thiết yếu và hồi sức cấp cứu sơ sinh tại phòng đẻ.
  • Đầu tư trang thiết bị y tế, thuốc thiết yếu và phương tiện vận chuyển cấp cứu phù hợp cho các đơn vị sản khoa và sơ sinh, đặc biệt ưu tiên cho các vùng khó khăn, miền núi, hải đảo.

- Thực hiện nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật chăm sóc sơ sinh thiết yếu

Chỉ thị nhấn mạnh việc áp dụng đồng bộ và nghiêm túc các quy trình chuyên môn kỹ thuật đã được Bộ Y tế ban hành:

  • Thực hiện tốt quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay sau đẻ, bao gồm: lau khô, ủ ấm, cho trẻ bú sớm trong giờ đầu sau đẻ, chăm sóc rốn vô khuẩn và theo dõi sát sao tình trạng của trẻ trong những giờ đầu.
  • Tăng cường quản lý thai nghén, phát hiện sớm các thai kỳ có nguy cơ cao để có phương án xử trí kịp thời, hạn chế tối đa các tai biến sản khoa dẫn đến ngạt hoặc chấn thương cho trẻ sơ sinh.
  • Áp dụng phương pháp "Căng-gu-ru" (Kangaroo Mother Care) đối với trẻ đẻ non, nhẹ cân tại các cơ sở y tế có đủ điều kiện và hướng dẫn gia đình tiếp tục thực hiện tại nhà.

- Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi

Công tác tuyên truyền đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng và gia đình:

  • Tổ chức tuyên truyền sâu rộng về tầm quan trọng của việc khám thai định kỳ, sinh đẻ tại các cơ sở y tế có cán bộ chuyên môn đỡ.
  • Hướng dẫn các bà mẹ và gia đình cách chăm sóc trẻ sơ sinh tại nhà: giữ ấm cho trẻ, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn, vệ sinh rốn, phát hiện sớm các dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh để đưa đến cơ sở y tế kịp thời.
  • Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể (đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ) để triển khai các hoạt động truyền thông trực tiếp đến từng hộ gia đình.

- Tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện và chỉ đạo tuyến

Để đảm bảo chất lượng chuyên môn đồng đều giữa các tuyến, Chỉ thị đưa ra các yêu cầu cụ thể về đào tạo:

  • Các bệnh viện phụ sản, bệnh viện nhi trung ương và các bệnh viện đa khoa tỉnh có trách nhiệm hỗ trợ chuyên môn, kỹ thuật cho tuyến dưới thông qua hoạt động chỉ đạo tuyến.
  • Tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo lại về chăm sóc sơ sinh thiết yếu, hồi sức cấp cứu sơ sinh cho đội ngũ bác sĩ, hộ sinh, y sĩ sản nhi và cô đỡ thôn bản.
  • Thường xuyên cập nhật các kiến thức, kỹ năng lâm sàng mới nhất về sơ sinh học cho cán bộ y tế trực tiếp làm công tác đỡ đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh.

Ý nghĩa và định hướng triển khai thực hiện

Chỉ thị 04/2003/CT-BYT thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Bộ Y tế đối với sức khỏe của thế hệ tương lai ngay từ những giây phút đầu đời. Việc thực hiện nghiêm túc các nội dung của Chỉ thị không chỉ giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh mà còn góp phần nâng cao thể chất, trí tuệ của trẻ em Việt Nam. Các đơn vị y tế trong toàn ngành có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, bố trí nguồn lực phù hợp và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định chuyên môn để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

BỘ Y TẾ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 04/2003/CT-BYT

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2003 

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH NHẰM GIẢM TỶ LỆ TỬ VONG SƠ SINH

Trong những năm qua, tỉ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi của nước ta đã giảm một cách đáng kể nhờ sự nỗ lực của toàn ngành y tế, sự tham gia tích cực của các ngành các cấp, sự đóng góp hiệu quả của các chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và sự hỗ trợ quý báu của các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh giảm nhưng không đáng kể, đây chính là một thách thức lớn trong công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em. Trên thế giới, hàng năm có khoảng 8 triệu trẻ sơ sinh chết, chiếm 2/3 tổng số chết của trẻ dưới 1 tuổi, trong đó 2/3 số trẻ sơ sinh chết trong tuần đầu và 2/3 số này chết trong 24 giờ đầu. ở Việt Nam cũng tương tự như vậy, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh chiếm 50-70% tổng số tử vong trẻ dưới 1 tuổi. Nguyên nhân gây nên tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao là do trẻ bị ngạt, chấn thương trong khi đẻ, đẻ non, đẻ thấp cân và các bệnh nhiễm khuẩn, trong khi đó những nguyên nhân này lại có thể phòng tránh được. Thực trạng trên chính là do thiếu sự quan tâm đúng mức của cán bộ quản lý bệnh viện, sự yếu kém và thiếu đồng bộ trong chăm sóc sơ sinh. Hiện tại, nhiều bệnh viện tỉnh chưa có khoa sơ sinh, hoặc nếu có thì bác sĩ cũng chưa được đào tạo sâu về chăm sóc sơ sinh. Trang thiết bị cấp cứu, chăm sóc sơ sinh và phương tiện vận chuyển còn thiếu thốn. Công tác vận chuyển cấp cứu chưa đảm bảo nhanh chóng, kịp thời và an toàn. Sự phối hợp giữa chuyên khoa sản và chuyên khoa nhi chưa chặt chẽ trong chỉ đạo hướng dẫn chăm sóc thai nhi và trẻ sơ sinh.

Để khắc phục thực trạng trên và tăng cường chăm sóc sơ sinh, nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh theo các mục tiêu xác định trong Chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đến năm 2010 - 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ thị:

Tất cả các cơ sở y tế hoạt động trong lĩnh vực sản nhi bao gồm bệnh viện chuyên khoa sản, bệnh viện chuyên khoa nhi, khoa sản, khoa nhi của các bệnh viện đa khoa, trung tâm BVBMTE/KHHGĐ, nhà hộ sinh, trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện nghiêm các quy chế chuyên môn, quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành, tiếp tục triển khai thực hiện “Chỉ thị 08/1998/CT-BYT ngày 6/11/1998 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường dự phòng và cấp cứu các tai biến sản khoa”, nội dung Làm mẹ an toàn trong “Hướng dẫn Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khoẻ sinh sản” được ban hành kèm theo Quyết định số 3367/QĐ-BYT ngày 12/9/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

a. Tăng cường sự phối hợp giữa chuyên khoa sản với chuyên khoa nhi trong chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh đặc biệt trong việc xử lý cấp cứu, hồi sức sơ sinh tại phòng đẻ. Đối với các trường hợp đẻ non, đẻ thiếu cân, các bác sĩ nhi khoa phải có mặt để cùng tham gia hồi sức cấp cứu. Trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn để nâng cao chất lượng chăm sóc sơ sinh tại các tuyến.

- Chuyên khoa sản có trách nhiệm:

- Quản lý tốt thai nghén, đặc biệt đối với các thai phụ có nguy cơ đẻ non, tiến hành sàng lọc, kiểm soát và điều trị viêm âm đạo ở các thai phụ.

- Chăm sóc sơ sinh, hướng dẫn bú mẹ sớm ngay sau sinh, tiêm Vitamin K cho trẻ sơ sinh.

- Chẩn đoán phát hiện sớm thai nhi có nguy cơ, dị tật, vàng da để phối hợp với chuyên khoa nhi xử trí kịp thời.

b. Xử trí cấp cứu sớm sơ sinh bệnh, suy hô hấp, hạ thân nhiệt, nhiễm khuẩn và các trường hợp bệnh lý khác.

- Chuyên khoa nhi có trách nhiệm:

- Nâng cao chất lượng hồi sức cấp cứu sơ sinh nhẹ cân, sơ sinh bệnh, dị tật, sang chấn sản khoa. Nâng cao chất lượng sàng lọc sơ sinh nhằm phát hiện và xử lý sớm sơ sinh dị tật.

- Chủ trì và phối hợp với chuyên khoa sản hỗ trợ đào tạo cho tuyến dưới, đào tạo lại để nâng cao chất lượng cấp cứu, hồi sức và chăm sóc sơ sinh.

Tổ chức sơ cứu và chuyển tuyến kịp thời và an toàn đối với sơ sinh bệnh.

Trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật:

a. Đối với chuyên khoa sản:

- - Từ Thừa Thiên Huế trở ra sẽ do Bệnh viện Phụ sản Trung ương chịu trách nhiệm.

Từ Đà Nẵng trở vào sẽ do Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm.

b. Đối với chuyên khoa Nhi:

- Từ Thừa Thiên Huế trở ra sẽ do Bệnh viện Nhi Trung ương chịu trách nhiệm,

- Từ Đà Nẵng trở vào sẽ do Bệnh viện Nhi Đồng I thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm.

(Nội dung này thay thế phần phân công chỉ đạo ngành của Chỉ thị 08/1998/CT-BYT ngày 6/11/1998 của Bộ Y tế).

Các bệnh viện được giao nhiệm vụ chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo tình hình bệnh tật tử vong sơ sinh gửi Bộ Y tế (Vụ Điều trị, Vụ Sức khoẻ sinh sản) và xây dựng kế hoạch hỗ trợ chuyên môn cụ thể cho từng tỉnh để đạt được mục tiêu giảm tử vong trẻ em nói chung và giảm tử vong sơ sinh nói riêng.

a. Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là các Sở Y tế), Y tế các ngành có trách nhiệm:

b. Đánh giá toàn diện công tác chăm sóc sơ sinh tại địa phương, trên cơ sở đó có kế hoạch kiện toàn tổ chức, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên khoa sản, chuyên khoa nhi, đặc biệt là nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi về chăm sóc và hồi sức sơ sinh.

c. Trên cơ sở quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh của tỉnh, có kế hoạch củng cố hoặc thành lập ngay (nếu chưa có) các đơn nguyên sơ sinh thuộc khoa nhi đối với bệnh viện đa khoa tỉnh; khoa sơ sinh đối với bệnh viện chuyên khoa sản và bệnh viện nhi tuyến tỉnh; đơn nguyên nhi bao gồm cả chăm sóc sơ sinh tại trung tâm y tế quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Tổ chức và chỉ đạo việc chuyển tuyến đảm bảo an toàn cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.

5. Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế có trách nhiệm:

a. Chủ trì và phối hợp các Vụ, Cục liên quan, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi đồng I thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng kế hoạch hành động giảm tử vong sơ sinh và trình Bộ Trưởng Bộ Y tế phê duyệt.

b. Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp tình hình việc thực hiện Chỉ thị này để báo cáo Bộ trưởng Bộ Y tế.

Nhận được Chỉ thị này, Giám đốc Sở Y tế , Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Thủ trưởng Y tế ngành, Giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 1, Giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ phải khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc các đơn vị báo cáo về Bộ Y tế (Vụ Sức khỏe sinh sản) để xem xét giải quyết.

 


- Nơi nhận:

- VPCP (để đăng Công báo)
- Các Đ/c Thứ trưởng Bộ Y tế,
- UBDSGĐTE,
- Sở Y tế các tỉnh, TP,
- Y tế ngành,
- Cục Quân Y, Cục Y tế - Bộ Công an,
- Các Vụ, Cục, Văn phòng, Thanh tra Bộ Y tế,
- Các đơn vị trực thuộc Bộ,
- Bệnh viện Nhi đồng 1 TP HCM,
- Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ,
- Lưu PC, SKSS
- Lưu trữ.

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ




Trần Thị Trung Chiến

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 04/2003/CT-BYT về việc tăng cường chăm sóc trẻ sơ sinh nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành

Số hiệu: 04/2003/CT-BYT
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 10/10/2003
Nơi ban hành: Bộ Y tế
Người ký: Trần Thị Trung Chiến
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 10/10/2003
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thể thao - Y tế
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 04/2003/CT-BYT về việc tăng cường chă...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký