Chỉ thị 04-CT/TLĐ được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành năm 1996 nhằm đôn đốc, hướng dẫn các cấp công đoàn thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm để thi hành Bộ luật Lao động năm 1994, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Về phạm vi và đối tượng áp dụng, văn bản hướng dẫn trực tiếp đến các cấp công đoàn từ trung ương đến cơ sở, các cán bộ công đoàn, đồng thời tác động mạnh mẽ đến người lao động và người sử dụng lao động trong tất cả các thành phần kinh tế trên phạm vi cả nước.
Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật lao động
- Các cấp công đoàn có trách nhiệm chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức các đợt học tập, tuyên truyền sâu rộng về Bộ luật Lao động.
- Đối tượng tuyên truyền bao gồm cả đoàn viên, người lao động và người sử dụng lao động nhằm nâng cao nhận thức pháp luật, giúp người lao động tự bảo vệ quyền lợi và thực hiện đúng nghĩa vụ lao động.
Đẩy mạnh việc ký kết hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể
- Công đoàn cơ sở có nhiệm vụ hướng dẫn người lao động giao kết hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật, tránh các điều khoản bất lợi.
- Chủ động thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp, đặc biệt chú trọng khu vực kinh tế ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhằm xác lập các điều kiện lao động có lợi hơn cho người lao động so với mức tối thiểu do luật định.
Tham gia xây dựng và giám sát thực hiện các chính sách, chế độ đối với người lao động
- Đại diện tập thể lao động tham gia xây dựng nội quy lao động, thang lương, bảng lương, định mức lao động và các quy chế nội bộ khác của doanh nghiệp.
- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, an toàn vệ sinh lao động và các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Giải quyết tranh chấp lao động và đình công
- Chủ động tham gia và phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết kịp thời, dứt điểm các tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể ngay từ cơ sở.
- Hướng dẫn và thực hiện quyền lãnh đạo đình công theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định khi các biện pháp hòa giải hoặc trọng tài lao động không đạt kết quả, hạn chế tối đa các cuộc đình công tự phát, không đúng thủ tục.
Củng cố, phát triển tổ chức công đoàn và đào tạo cán bộ
- Tập trung đẩy mạnh công tác phát triển đoàn viên và thành lập tổ chức công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh.
- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật lao động và kỹ năng hoạt động cho đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, nâng cao năng lực đối thoại, thương lượng và bảo vệ người lao động.
Về hiệu lực thi hành, Chỉ thị 04-CT/TLĐ năm 1996 có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Đây là văn bản chỉ đạo mang tính chiến lược, tạo cơ sở pháp lý và hành động thống nhất cho toàn hệ thống công đoàn Việt Nam trong việc đưa Bộ luật Lao động vào cuộc sống, bảo đảm hài hòa lợi ích trong quan hệ lao động mới.
| TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04-CT/TLĐ | Hà Nội, ngày 18 tháng 4 năm 1996 |
Qua hơn 1 năm Bộ luật Lao động (BLLĐ) có hiệu lực thi hành, các cấp công đoàn thực sự đã quan tâm và chủ động triển khai các mặt công tác có liên quan đến việc thi hành BLLĐ ở ngành và địa phương mình.
Vai trò của nhiều Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) và Công đoàn ngành đã thể hiện rõ trách nhiệm và chủ động phối hợp với cơ quan quản lý Nhà nước ở ngành và địa phương để triển khai thi hành BLLĐ. Có thể đánh giá là gần 100% cán bộ công đoàn chuyên trách ở các cấp đã được tập huấn về BLLĐ. Đối với Công nhân lao động (CNLĐ) nói chung, BLLĐ mới được tuyên truyền giới thiệu cho khoảng 70-80% số CNLĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và một số ít CNLĐ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Còn lại chỉ mới dừng lại ở một số cán bộ lãnh đạo và quản lý của doanh nghiệp.
Vì vậy, gần đây những hiện tượng vi phạm pháp luật lao động vẫn có chiều hướng tăng lên và dẫn đến những vụ phản ứng tập thể của CNLĐ mà nguyên nhân chính là do chủ doanh nghiệp hoặc do một số người quản lý của doanh nghiệp không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật lao động, vi phạm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1996 đã có tới 18 cuộc đình công. So với cùng kỳ tăng 20% và bằng 39% cả năm 1995. Về phía người lao động do chưa nắm được những điều cơ bản của BLLĐ quy định về quyền và trách nhiệm của các bên. Do đó ở một bộ phận cơ sở doanh nghiệp, ở khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không dám đấu tranh vì không nắm được luật pháp hoặc không có chỗ dựa vì chưa thành lập được Công đoàn. Ngược lại nơi dám đấu tranh thì chưa nắm được trình tự và thủ tục khi sử dụng quyền đình công.
Để BLLĐ sớm đi vào đời sống, phát huy tác dụng đối với các đối tượng được điều chỉnh. Đoàn Chủ tịch TLĐ yêu cầu các cấp công đoàn, khẩn trương tổ chức thực hiện một số biện pháp cụ thể sau đây:
Phấn đấu, để cuối năm 1996, khi kiểm tra tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều đã được phổ biến BLLĐ đến mọi cán bộ quản lý và người lao động.
LĐLĐ tỉnh, thành phố cùng với Công đoàn ngành chỉ đạo, hướng dẫn Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở xúc tiến việc ký thoả ước lao động tập thể. Tại các DNNN vẫn tổ chức tốt Đại hội công nhân viên chức để CNLĐ thực hiện quyền tham gia quản lý doanh nghiệp. (TLĐLĐ VN đã có văn bản số 147/CP ngày 3/2/1996 hướng dẫn về Đại hội CNVC trong DNNN).
a. Cử đại diện Công đoàn cơ sở tham gia Hội đồng hoà giải lao động (HĐHGLĐ) cơ sở: LĐLĐ tỉnh, thành phố và các Công đoàn ngành nghề toàn quốc hướng dẫn đôn đốc và giúp đỡ Ban CHCĐ cơ sở cùng với người sử dụng lao động thảo luận, xúc tiến việc thành lập HĐHGLĐ cơ sở. Thành phần, nhiệm vụ của Hội đồng theo Điều 163 và Điều 164 của BLLĐ. Số lượng thành viên, tuỳ theo quy mô và số lượng CNLĐ của doanh nghiệp để thoả thuận có số thành viên ngang nhau trong Hội đồng (nhưng nên ít nhất là 4 người).
Nơi đã có tổ chức Công đoàn hoặc Công đoàn Lâm thời, địa diện cho CNLĐ tham gia vào HĐHGLĐ cơ sở là Công đoàn và do ban CHCĐ cơ sở cử ra hoặc được bầu theo nhiệm kỳ Đại hội Công đoàn cơ sở.
b) Cử đại diện của LĐLĐ tỉnh, thành phố tham gia Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh.
Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh, thành phố có trách nhiệm cử đại diện tham gia HĐTTLĐ cấp tỉnh, được tiến hành bằng việc đề cử theo quy định tại Điều 169 của BLLĐ và Nghị định của Chính phủ sẽ được ban hành hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của HĐTTLĐ cấp tỉnh.
Việc cử đại diện của LĐLĐ tham gia HĐTTLĐ cấp tỉnh, được tiến hành bằng việc đề cử, bỏ phiếu trong Hội nghị Ban Chấp hành LĐLĐ tỉnh, thành phố.
Tổng Liên đoàn yêu cầu các cấp công đoàn, phải nhận rõ trách nhiệm như sau:
a) Đối với Công đoàn cấp trên cơ sở (Công đoàn Quận, huyện, Công đoàn Ngành địa phương, Công đoàn Tổng Công ty...) cần bố trí cán bộ có năng lực và am hiểu pháp luật lao động, chuyên trách theo dõi và làm nhiệm vụ cùng với Công đoàn cơ sở giải quyết khi có tranh chấp lao động hoặc đình công xảy ra theo đúng trình tự pháp luật quy định.
b) Đối với LĐLĐ tỉnh, thành phố trực thuộc TW, công đoàn ngành nghề toàn quốc, khi nhận được báo cáo chính thức của Công đoàn cơ sở về tranh chấp lao động thì tuỳ theo tính chất, mức độ, phạm vi tranh chấp xảy ra để cử cán bộ chuyên trách theo dõi, cùng với Công đoàn cấp trên trực tiếp của cơ sở xem xét vấn đề tranh chấp, giúp cơ sở giải pháp bảo vệ quyền, lợi ích của các bên và tuân thủ đúng luật pháp. Từ nay những trường hợp người nước ngoài đánh đập, làm nhục người Việt Nam đều phải truy tố ra Toà án, không để họ bỏ chạy về nước dễ dàng như trước nay.
Đoàn Chủ tịch TLĐ yêu cầu ban Thường vụ LĐLĐ tỉnh, thành phố trực thuộc TW và Công đoàn ngành, nghề toàn quốc trực tiếp chỉ đạo triển khai; xây dựng kế hoạch phối hợp cùng với cơ quan hữu quan (trong đó có Sở LĐ-TBXH, theo Thông báo số 330/TB ngày 31/1/1996 đã gửi và Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phố, theo Thông báo số 23/TB-TLĐ ngày 2/4/1996 đã gửi cho LĐLĐ và các Công đoàn ngành nghề toàn quốc) để xúc tiến việc kiểm tra, giám sát việc thi hành luật pháp lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn và chuẩn bị tiến hành đánh giá, sơ kết sau 2 năm thi hành BLLĐ vào cuối năm 1996 (TLĐ sẽ có văn bản hướng dẫn vào quý II/1996).
|
| Nguyễn Văn Tư (Đã ký) |
- 1 Bộ luật Lao động 1994
- 2 Nghị định 198-CP năm 1994 hướng dẫn Bộ luật lao động về hợp đồng lao động
- 3 Quyết định 81/QĐ-TLĐ năm 1996 về tổ chức và hoạt động của tổ chức công đoàn lâm thời do Đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam ban hành
- 4 Nghị định 02/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề