Chỉ thị 05/CT-NH1 được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành năm 1996 nhằm thực hiện một số biện pháp cấp bách chỉ đạo công tác tiền tệ và hoạt động tín dụng trong thời gian trước mắt, hướng tới mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Văn bản áp dụng đối với các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng toàn bộ các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
- Đẩy mạnh công tác huy động vốn và điều hành lãi suất
- Các tổ chức tín dụng phải chủ động, tích cực khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức phong phú, linh hoạt nhằm tăng nguồn vốn cho vay trung và dài hạn.
- Thực hiện nghiêm túc cơ chế điều hành lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, bảo đảm mức lãi suất huy động và cho vay hợp lý, vừa khuyến khích người dân gửi tiền, vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí phù hợp.
- Nâng cao chất lượng tín dụng và tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên
- Tập trung nguồn vốn tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, sản xuất hàng xuất khẩu, nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Kiểm soát chặt chẽ quy trình cho vay, thẩm định kỹ lưỡng tính khả thi của các dự án nhằm hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh.
- Hạn chế và giám sát nghiêm ngặt việc cấp tín dụng đối với các lĩnh vực có tính rủi ro cao như kinh doanh bất động sản, tiêu dùng không tự có nguồn thu hoặc các dự án đầu tư kém hiệu quả.
- Tăng cường công tác thu hồi nợ và xử lý nợ quá hạn
- Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng phải tập trung lực lượng để phân loại nợ, rà soát các khoản nợ quá hạn để có biện pháp xử lý dứt điểm.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để thu hồi nợ đối với các khách hàng chây ỳ, có dấu hiệu lừa đảo hoặc vi phạm pháp luật về hợp đồng tín dụng.
- Trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro theo đúng quy định để chủ động xử lý các tổn thất tài chính có thể xảy ra.
- Quản lý lưu thông tiền tệ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt
- Điều hòa lượng tiền mặt trong lưu thông một cách hợp lý, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu chi trả của nền kinh tế, tránh tình trạng thiếu hụt tiền mặt cục bộ.
- Mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt nhằm giảm chi phí lưu thông và tăng cường tính minh bạch tài chính.
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng
- Thanh tra Ngân hàng Nhà nước tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các tỷ lệ bảo đảm an toàn vốn và khả năng chi trả.
- Xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong hệ thống tài chính.
Chỉ thị 05/CT-NH1 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung chỉ đạo tại Chỉ thị này.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/CT-NH1 | Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 1996 |
CHỈ THỊ
VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC TIỀN TỆ, TÍN DỤNG TRONG THỜI GIAN TRƯỚC MẮT
Trong những tháng đầu năm 1996, toàn ngành đã kiên quyết thực hiện các biện pháp của Chính phủ và 9 giải pháp của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về kiềm chế và đẩy lùi lạm phát. Chúng ta đã kiên trì mục tiêu chính sách tiền tệ và sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ thực hiện chính sách, trong đó có việc áp dụng hạn mức tín dụng và điều hành lãi suất, nhiều Ngân hàng Thương mại thực hiện nghiêm túc hạn mức tín dụng và lãi suất, tăng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả và kinh doanh có lãi, đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát ở mức thấp.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số Ngân hàng Thương mại còn nổi lên một số vấn đề:
1. Khi hạ lãi suất tiền gửi nhưng không đồng thời hạ lãi suất cho vay, hoặc hạ lãi suất tiền gửi với mức độ nhanh hơn so với mức độ hạ lãi suất cho vay.
2. Tính toán kinh doanh một cách đơn thuần trước mắt, nên đã hạn chế các hình thức huy động vốn, chỉ huy động từ 3 tháng trở xuống, không huy động tiền gửi trung, dài hạn hoặc chỉ huy động cầm chừng, hạn chế khả năng huy động vốn trong nước.
3. Mặc dù một số Ngân hàng Thương mại chưa sử dụng hết hạn mức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh nâng hạn mức tín dụng cho một số Ngân hàng Thương mại có nhu cầu mở rộng tín dụng có hiệu quả, song việc điều hành hạn mức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước chưa năng động, điều chỉnh hạn mức tín dụng cho một số Ngân hàng Thương mại chưa kịp thời.
4. Do một số điều kiện vay vốn không đảm bảo, tuy lãi suất vay đã hạ nhưng một số doanh nghiệp vẫn không chịu đựng nổi, mặt khác những tồn tại trong tín dụng đang được chấn chỉnh, nên ở một số Ngân hàng Thương mại xuất hiện hiện tượng thừa vốn ngắn hạn tạm thời.
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu kiềm chế lạm phát và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm kinh doanh có hiệu quả và an toàn vốn của các tổ chức tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu:
1. Các Ngân hàng Thương mại, trên cơ sở nhiệm vụ được giao và kế hoạch kinh doanh phục vụ xem xét, tính toán phù hợp điều kiện của mình, tích cực mở rộng huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn trung dài hạn. Cần đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, các dịch vụ phục vụ khách hàng.
2. Chấp hành nghiêm túc trần lãi suất cho vay cao nhất đã quy định. Nếu giảm lãi suất huy động thì phải đồng thời giảm cả lãi suất cho vay, đảm bảo mức chênh lệch bình quân là 0,35%/tháng và phải được công bố công khai. Trong phạm vi trần lãi suất đã quy định, Ngân hàng Nhà nước cho phép các Ngân hàng Thương mại xử lý lãi suất huy động và cho vay trung và dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn để huy động vốn, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư trung và dài hạn.
3. Để giải quyết hiện tượng ngưng đọng vốn tạm thời, các Ngân hàng Thương mại tích cực tìm kiếm các dự án phát triển kinh tế đầu tư có hiệu quả và đáp ứng vốn tín dụng kịp thời. Tăng cường hơn nữa hoạt động của thị trường nội tệ liên ngân hàng để các tổ chức tín dụng vay lẫn nhau, Ngân hàng cổ phần thành thị có thể cho vay các Ngân hàng cổ phần nông thôn và các quỹ tín dụng nhân dân khu vực, nhằm đưa thêm vốn về nông thôn, nơi đang có nhiều dự án kinh tế phát triển nhưng lại thiếu vốn.
Việc cho vay bằng ngoại tệ chỉ áp dụng đối với những dự án có nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên liệu từ nước ngoài. Nghiêm cấm hoạt động cho vay ngoại tệ để sử dụng ở thị trường trong nước lợi dụng lãi suất để thu chênh lệch. Kiểm soát chặt việc mở LC trả chậm theo đúng các quy chế hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về cho vay và bảo lãnh.
Trong chỉ đạo hoạt động tín dụng phải luôn đặt lên hàng đầu vấn đề an toàn vốn, đảm bảo các điều kiện cho vay theo chế độ quy định.
4. Về hạn mức tín dụng: Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục chỉ đạo các Ngân hàng Thương mại thực hiện nghiêm túc hạn mức tín dụng đã đề ra. Tuy nhiên để giúp các Ngân hàng Thương mại có điều kiện mở rộng tín dụng, đặc biệt cho các nhu cầu đầu tư trung và dài hạn, nhu cầu thu mua lương thực, phục vụ xuất nhập khẩu, Ngân hàng Nhà nước sẽ điều chỉnh hạn mức linh hoạt cho những Ngân hàng Thương mại có yêu cầu vốn để đáp ứng cho các nhu cầu nói trên. Riêng quy chế mua - bán hạn mức tín dụng chưa thực hiện, chờ hướng dẫn sau.
Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng và các đơn vị liên quan trong toàn ngành cần phải triển khai thực hiện kịp thời các nhiệm vụ trên đây, các đơn vị chức năng ở Ngân hàng Nhà nước Trung ương và chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm theo dõi và kiểm tra việc thực hiện chỉ thị này, xử lý uốn nắn ngay và định kỳ tháng báo cáo tình hình và kết quả thực hiện về Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
|
| Cao Sĩ Kiêm (Đã ký)
|
- 1 Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 2 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Thông tư 130-NH/TT-1987 hướng dẫn triển khai công tác tiền tệ, tín dụng, thanh toán để thực hiện Bản quy định về các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh kèm theo QĐ 217-HĐBT-1987 do Ngân hàng nhà nước ban hành
- 2 Quyết định 98/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
- 3 Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 4 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 2 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Thông tư 130-NH/TT-1987 hướng dẫn triển khai công tác tiền tệ, tín dụng, thanh toán để thực hiện Bản quy định về các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh kèm theo QĐ 217-HĐBT-1987 do Ngân hàng nhà nước ban hành
- 2 Quyết định 98/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế do Thủ tướng Chính phủ ban hành.