Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Chỉ thị 06/2008/CT-BYT

Chỉ thị 06/2008/CT-BYT được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành trong bối cảnh nhu cầu về số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực y tế ngày càng tăng cao để đáp ứng sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Chỉ thị này tập trung vào việc chỉ đạo các đơn vị, cơ sở đào tạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm chấn chỉnh, nâng cao toàn diện chất lượng dạy và học ngành y dược.

Các nội dung chỉ đạo trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Để khắc phục những hạn chế và tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đào tạo nhân lực y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung thực hiện các nhiệm vụ cốt lõi sau:

  • Đổi mới chương trình, giáo trình và phương pháp đào tạo: Tiến hành rà soát, cập nhật và hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hội nhập quốc tế nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với thực tiễn mô hình bệnh tật tại Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, chuyển từ truyền thụ thụ động sang phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của học viên.
  • Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên: Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm y học và y đức cho đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đội ngũ giảng viên lâm sàng. Đảm bảo các cơ sở đào tạo phải có đủ số lượng và cơ cấu giảng viên cơ hữu theo quy định.
  • Tăng cường cơ sở vật chất và thực hành lâm sàng: Tập trung đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại, nâng cấp hệ thống phòng thí nghiệm, thư viện và cơ sở thực hành. Thắt chặt mối quan hệ hữu cơ giữa trường y dược và các bệnh viện thực hành, bảo đảm học viên có đủ thời gian thực hành trên lâm sàng dưới sự hướng dẫn sát sao của các cán bộ y tế có kinh nghiệm.
  • Cải tiến công tác tuyển sinh và đánh giá kết quả: Thực hiện nghiêm túc các quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế nhằm bảo đảm chất lượng đầu vào. Đổi mới phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên theo hướng khách quan, chính xác, chú trọng đánh giá năng lực thực hành nghề nghiệp thực tế.
  • Đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng đào tạo: Triển khai tự đánh giá và đánh giá ngoài đối với các chương trình đào tạo và các cơ sở đào tạo nhân lực y tế theo tiêu chuẩn chất lượng quy định, coi đây là công cụ quan trọng để tự cải tiến và khẳng định uy tín của cơ sở đào tạo.

Trách nhiệm triển khai thực hiện của các cơ quan, đơn vị

Chỉ thị phân công trách nhiệm cụ thể và rõ ràng cho từng nhóm đối tượng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả khi triển khai:

  • Vụ Khoa học và Đào tạo (nay là Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo): Chịu trách nhiệm làm đầu mối tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện Chỉ thị; phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng đào tạo nhân lực y tế.
  • Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y dược: Chủ động xây dựng kế hoạch hành động cụ thể của trường, rà soát các điều kiện đảm bảo chất lượng, thực hiện nghiêm túc các quy định chuyên môn và báo cáo định kỳ kết quả thực hiện về Bộ Y tế.
  • Các bệnh viện, cơ sở thực hành lâm sàng: Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi nhất về cơ sở vật chất, trang thiết bị và phân công cán bộ có trình độ tham gia giảng dạy, hướng dẫn học viên thực hành lâm sàng, xem công tác đào tạo là một trong những nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
  • Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Phối hợp với các trường trên địa bàn quản lý tốt công tác đào tạo, đặc biệt là đào tạo theo địa chỉ sử dụng và đào tạo liên tục cho cán bộ y tế tuyến cơ sở nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại địa phương.

BỘ Y TẾ
-----

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------

Số: 06/2008/CT-BYT

Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2008

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC Y TẾ

Nghị quyết số 46 NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã khẳng định: “nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”.

Với đặc thù đào tạo nhân lực y tế là việc tổ chức đào tạo luôn gắn liền với thực hành, thực tập tại các cơ sở y tế ở nhiều tuyến khác nhau. Thực hiện Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế, nhằm chấn chỉnh việc xác định quy mô đào tạo, quản lý và tổ chức đào tạo, liên kết đào tạo và mở ngành đào tạo trong lĩnh vực y tế, góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở đào tạo nhân lực y tế, các cơ sở y tế có học sinh, sinh viên y dược đến thực tập, thực hành thực hiện tốt các nội dung sau đây:

1. Về tuyển sinh: trên cơ sở các quy định và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ sở đào tạo xác định quy mô đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm như sau:

a) Quy mô đào tạo:

Tỷ lệ học sinh-sinh viên quy đổi trên số giáo viên-giảng viên quy đổi không vượt quá định mức: 20 học sinh/giáo viên đối với đào tạo trung cấp; 15 sinh viên/giảng viên đối với đào tạo cao đẳng; 10 sinh viên/giảng viên đối với đào tạo đại học.

b) Chỉ tiêu tuyển sinh:

- Tổng số học sinh, sinh viên hệ chính quy tập trung đạt tối thiểu 60% trong tổng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm sau khi đã quy đổi.

- Các trường đại học hoặc cao đẳng đã được thành lập từ 3 năm trở lên (tính đến 30 tháng 6 hàng năm) có đào tạo các trình độ thấp hơn thì tổng chỉ tiêu tuyển sinh (chưa quy đổi) các trình độ thấp hơn không vượt quá 50% tổng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm.

2. Việc tổ chức đào tạo phải được thực hiện tại các cơ sở có chức năng đào tạo nhân lực y tế theo đúng trình độ đã được phép đào tạo. Các cơ sở đào tạo nhân lực y tế phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ đội ngũ giáo viên theo đúng các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3. Các cơ sở đào tạo nhân lực y tế phải có đủ các cơ sở thực hành ngoài trường theo các tuyến y tế, trong đó phải xác định cơ sở thực hành chính đảm bảo có đủ các điều kiện như sau:

a) Đối với đào tạo về y, điều dưỡng, kỹ thuật y học:

- Đào tạo đại học: cơ sở thực hành chính là bệnh viện đa khoa hạng 1 trở lên hoặc bệnh viện đa khoa tuyến trung ương.

- Đào tạo cao đẳng và trung cấp: cơ sở thực hành chính là bệnh viện đa khoa hạng 2 hoặc bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và tương đương trở lên.

b) Đối với đào tạo về dược:

- Đào tạo dược sỹ đại học: cơ sở thực hành chính là cơ sở sản xuất dược phẩm đạt GMP, cơ sở kiểm nghiệm thuốc đạt GLP, cơ sở kinh doanh thuốc đạt GPP và GSP theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và bệnh viện đa khoa hạng 1 hoặc bệnh viện đa khoa tuyến trung ương.

- Đào tạo dược sỹ cao đẳng, trung cấp: cơ sở thực hành là cơ sở sản xuất dược phẩm đạt GMP, cơ sở kiểm nghiệm thuốc đạt GLP, cơ sở kinh doanh thuốc đạt GPP và GSPtheo quy định hiện hành và bệnh viện đa khoa hạng 2 hoặc bệnh viện tuyến tỉnh.

c) Các bệnh viện có học sinh-sinh viên y, dược đến thực tập, thực hành phải đảm bảo tỷ lệ tối đa 2 học sinh-sinh viên quy đổi/giường bệnh. Các cơ sở thực hành chỉ được công nhận là cơ sở thực hành chính của không quá 3 cơ sở đào tạo.

4. Các trường hoặc cơ sở đào tạo chuyên ngành không thuộc về lĩnh vực y sinh học không được đăng ký mở ngành đào tạo nhân lực y tế.

Các cơ sở đào tạo khi đăng ký nhiệm vụ đào tạo nhân lực y tế phải chuẩn bị đủ các điều kiện cơ sở thực hành, thực tập về chuyên môn trước khi tuyển sinh.

Điều kiện thực hành, thực tập chuyên môn tại trường phải đạt các quy chuẩn chuyên môn theo quy định của Bộ Y tế. Điều kiện thực hành, thực tập chuyên môn ngoài trường phải đảm bảo các tiêu chí tại khoản 3 nói trên và các quy định hiện hành.

Bộ Y tế sẽ xem xét, đánh giá về các điều kiện chuyên môn và chỉ cho phép tổ chức đào tạo khi đủ điều kiện cơ bản, làm căn cứ pháp lý để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Số cán bộ giảng dạy cơ hữu của cơ sở đào tạo phải đảm bảo đảm nhiệm tối thiểu 70% khối lượng của chương trình đào tạo; những ngành học mới đào tạo tại Việt Nam, tỷ lệ tối thiểu là 40%. Các cơ sở đã được phép đào tạo chưa đảm bảo tỷ lệ trên phải có kế hoạch để đạt chuẩn về cán bộ giảng dạy theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thời gian 3 năm (đối với đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp) hoặc 5 năm (đối với đào tạo trình độ đại học).

5. Các cơ sở đào tạo phải có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo cán bộ giảng dạy, đảm bảo các điều kiện về nguồn lực và tổ chức để tiến tới đạt chuẩn chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế theo đúng các cam kết khi thành lập trường hoặc đăng ký mở ngành đào tạo.

6. Về liên kết đào tạo:

Các cơ sở đào tạo chỉ được phép thực hiện liên kết đào tạo với các đơn vị đào tạo là các trường có chức năng đào tạo nhân lực y tế cùng trình độ và đã được phép đào tạo hệ chính quy tập trung ít nhất là 1 khóa học ngành học sẽ liên kết. Chỉ tiêu đào tạo liên kết nằm trong tổng chỉ tiêu của trường cấp bằng. Các trường không liên kết với cơ sở đào tạo khi ở tỉnh/thành phố nơi cơ sở đào tạo đó đặt địa điểm đào tạo có cơ sở đào tạo khác đang đào tạo và còn đủ năng lực đào tạo đối tượng dự định liên kết. Việc liên kết đào tạo phải được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố nơi cơ sở đào tạo đó đặt địa điểm đào tạo và được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền.

7. Việc đào tạo hệ vừa làm vừa học không áp dụng với đào tạo bác sỹ, dược sỹ đại học. Các ngành hoặc trình độ đào tạo khác phải được sự đồng thuận của Bộ Y tế.

8. Kết thúc mỗi năm học, ngoài việc báo cáo theo quy định, các cơ sở đào tạo nhân lực y tế có nhiệm vụ báo cáo Bộ Y tế về việc quản lý đào tạo, liên kết đào tạo và tổ chức đào tạo, đặc biệt là việc tổ chức thực tập, thực hành.

9. Giao Vụ Khoa học và Đào tạo chủ trì xây dựng hoàn thiện các quy chuẩn đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế theo đúng các quy định của Luật Giáo dục và các quy định hiện hành; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị này và kết quả kiểm tra, giám sát báo cáo để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

10. Chỉ thị này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo.

Trong quá trình thực hiện, nếu có những vấn đề vướng mắc đề nghị các cơ sở phản ánh kịp thời về Bộ Y tế (Vụ Khoa học và Đào tạo), 138A Giảng Võ, Hà Nội để xem xét giải quyết./.

 

 

BỘ TRƯỞNG




Nguyễn Quốc Triệu

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 06/2008/CT-BYT về tăng cường chất lượng đào tạo nhân lực y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành

Số hiệu: 06/2008/CT-BYT
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 27/06/2008
Nơi ban hành: Bộ Y tế
Người ký: Nguyễn Quốc Triệu
Ngày công báo: 19/07/2008
Số công báo: Từ số 411 đến số 412
Ngày hiệu lực: 03/08/2008
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Giáo dục
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 06/2008/CT-BYT về tăng cường chất lượ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký