Giới thiệu chung về Chỉ thị 10/CT-NH1
Chỉ thị 10/CT-NH1 được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành năm 1994 nhằm triển khai một bước quan trọng trong đề án cải cách lãi suất tín dụng. Đây là văn bản mang tính bước ngoặt trong giai đoạn đầu đổi mới hệ thống tài chính - tiền tệ, nhằm từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý lãi suất từ bao cấp, áp đặt sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo nguyên tắc lãi suất thực dương để kích thích huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
Mục tiêu cốt lõi của đề án cải cách lãi suất tín dụng
Chỉ thị tập trung vào các mục tiêu chiến lược nhằm ổn định thị trường tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh:
- Thực hiện nguyên tắc lãi suất thực dương: Đảm bảo lãi suất tiền gửi và cho vay phải cao hơn tỷ lệ lạm phát thực tế, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, chống xói mòn giá trị đồng tiền và khuyến khích tích lũy tiết kiệm trong dân cư.
- Xóa bỏ bao cấp qua lãi suất: Từng bước thu hẹp và tiến tới xóa bỏ các khoản cho vay ưu đãi không căn cứ, chuyển sang cơ chế thị trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
- Tạo quyền tự chủ cho các tổ chức tín dụng: Cho phép các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng chủ động hơn trong việc xác định mức lãi suất cụ thể trong biên độ cho phép của Ngân hàng Nhà nước, phù hợp với mức độ rủi ro và chi phí vốn của từng đối tượng khách hàng.
Các nội dung triển khai cụ thể (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Nội dung trọng tâm của Chỉ thị tập trung vào việc hướng dẫn và bắt buộc các đơn vị trong toàn ngành Ngân hàng thực hiện các bước đi cụ thể sau:
- Điều chỉnh khung lãi suất trần và sàn: Ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất trần cho vay và lãi suất sàn tiền gửi để làm căn cứ pháp lý. Các ngân hàng thương mại dựa vào đó để áp dụng linh hoạt theo từng đối tượng, ngành nghề và kỳ hạn cụ thể.
- Phân định rõ ràng cơ chế lãi suất theo kỳ hạn: Khuyến khích áp dụng các kỳ hạn gửi tiền dài hơn với mức lãi suất hấp dẫn nhằm tạo nguồn vốn ổn định cho đầu tư phát triển trung và dài hạn, giảm thiểu rủi ro mất cân đối kỳ hạn.
- Kiểm soát chặt chẽ biên độ chênh lệch: Quy định giới hạn chênh lệch hợp lý giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân nhằm đảm bảo các tổ chức tín dụng bù đắp đủ chi phí hoạt động, có lợi nhuận tích lũy và ngăn ngừa tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát: Giao nhiệm vụ cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước và các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố giám sát chặt chẽ việc thực hiện biểu lãi suất mới, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về trần, sàn lãi suất hoặc lách luật dưới mọi hình thức.
Ý nghĩa và tác động của Chỉ thị đối với hệ thống ngân hàng
Việc triển khai Chỉ thị 10/CT-NH1 đã mang lại những chuyển biến tích cực và sâu sắc cho nền kinh tế tài chính thời kỳ đầu đổi mới:
- Góp phần kiềm chế lạm phát hiệu quả thông qua việc thu hút lượng tiền nhàn rỗi lớn trong lưu thông vào hệ thống ngân hàng, giảm áp lực lên thị trường vàng và ngoại tệ.
- Khơi thông nguồn vốn tín dụng, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn một cách minh bạch, bình đẳng và hiệu quả hơn dựa trên năng lực phương án kinh doanh thay vì cơ chế xin - cho.
- Đặt nền móng vững chắc cho các bước cải cách lãi suất tiếp theo, hướng tới tự do hóa lãi suất hoàn toàn và hội nhập sâu rộng với thị trường tài chính quốc tế.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10/CT-NH1 | Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 1994 |
CHỈ THỊ
TRIỂN KHAI MỘT BƯỚC ĐỀ ÁN CẢI CÁCH LÃI SUẤT TÍN DỤNG
Trong những năm qua, sau nhiều lần điều chỉnh lãi suất tín dụng Ngân hàng có bước thay đổi cả về chính sách và phương pháp điều hành. Các mức lãi suất được điều chỉnh linh hoạt trong từng thời kỳ gắn với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu tín dụng và chính sách tiền tệ bước đầu đã có tác dụng tích cực trong việc huy động vốn và cho vay như việc quản lý, kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.
Để phát huy những mặt được của chính sách lãi suất trong thời gian qua, tiến tới hoàn chỉnh chính sách lãi suất trong giai đoạn mới theo đề án đã được Chính phủ chấp nhận, căn cứ vào Điều lệ cụ thể hiện, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Tổng Giám đốc, Giám đốc các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Tổng công ty vàng bạc đá quý, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước các tỉnh, thành phố triển khai một bước cải cách đề án chính sách lãi suất tín dụng, theo những nội dung sau đây:
1- Căn cứ vào khung và tiền lãi suất cho vay cao nhất hiện hành của Ngân hàng Nhà nước đã công bố theo Quyết định số 184-QĐ/NH1, ngày 28-9-1993, các tổ chức tín dụng lập đến án điều chỉnh một số mức lãi suất tiền gửi và cho vay theo các nguyên tắc:
a) Về lãi suất huy động vốn
a.1- Giữ nguyên các mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn của dân cư và tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, kho bạc Nhà nước quy định như hiện hành.
a.2- Đối với tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, tùy theo nhu cầu sử dụng vốn có thể điều chỉnh lãi suất sát gần với lãi suất tiền gửi tiết kiệm dân cư cùng kỳ hạn.
a.4- Lãi suất huy động vốn dưới hình thức trái phiếu của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển được thực hiện theo đề án từng quý III/1994.
b) Về lãi suất cho vay
b.1- Giữ nguyên các mức lãi suất cho vay ngắn hạn được quy định hiện hành.
b.2 Nâng một bước mức lãi suất cho vay trung hạn từ 1,2% tháng hiện nay lên 1,7% tháng.
b.3- Riêng cho vay xây dựng cơ bản theo kế hoạch Nhà nước vẫn giữ bằng mức lãi suất trên 8,4% năm, và cho vay bằng ngoại tệ giữ nguyên lãi suất cho vay tối đa 8,5% năm (cộng cả phí).
c) Lãi suất cho vay đối với miền núi cao, hải đảo, vùng đồng bào Khơ - Me tập trung vẫn áp dụng cho mức lãi suất thấp ưu đãi giảm 15% như quy định hiện hành.
2. Trên cơ sở tiền lãi suất và các nguyên tắc nêu trên, Tổng Giám, Giám đốc các tổ chức tín dụng quy định từng mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động được vốn, được người vay chấp nhận và bảo đảm được hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
3. Lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng vẫn tạm thời thực hiện theo các quy định hiện hành cho đến khi có quyết định mới. Riêng đối với lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức tín dụng gửi tại Ngân hàng Nhà nước được thi hành theo quyết định số 145-QĐ/NH7 ngày 2-7-1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Hàng tháng căn cứ vào sự biến động của lãi suất thị trường quốc tế, trực tiếp là thị trường Singapore để điều chỉnh lãi suất tiền gửi ngoại tệ cho hợp lý và sát với lãi suất thị trường quốc tế.
4. Đi đôi với việc điều chỉnh các mức lãi suất này, các tổ chức tín dụng cần thiết và mở rộng mạng lưới hoạt động, hướng dẫn thông tin cụ thể, kịp thời cho khách hàng thực hiện có kết quả việc huy động vốn và cho vay, tiết kiệm chi phí ngân hàng, tạo điều kiện triển khai các bước tiếp theo về cải cách lãi suất được thuận lợi.
5. Vụ Nghiên cứu kinh tế ở Ngân hàng trung ương, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm theo dõi, giám sát trong quá trình thực hiện việc điều chỉnh các mức lãi suất của các tổ chức kinh tế tín dụng, đảm bảo hài hòa giữa các tổ chức tín dụng trong cùng một địa bàn, tránh có sự chênh lệnh quá lớn hoặc cạnh tranh gây mất ổn định trong hoạt động tín dụng.
Tổng Giám đốc, Giám đốc các tổ chức tín dụng, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan ở Ngân hàng Nhà nước trung ương, Giám đốc các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trong phạm vi trách nhiệm của mình, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị này kể từ ngày 1-8-1994;
|
| THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC |
- 1 Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 2 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Quyết định 75/2007/QĐ-BTC về công bố lãi suất tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 5612/BTC-TCNH về lãi suất tín dụng xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 2098/VPCP-KTTH về lãi suất tín dụng xuất khẩu do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 4 Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 5 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Quyết định 147/QĐ-NH1 năm 1995 sửa đổi Quyết định 184/QĐ-NH1 và Chỉ thị 10/CT-NH1 điều chỉnh lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2 Quyết định 2039/QĐ-NHNN năm 2015 về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 3 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018
- 1 Quyết định 75/2007/QĐ-BTC về công bố lãi suất tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 5612/BTC-TCNH về lãi suất tín dụng xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 2098/VPCP-KTTH về lãi suất tín dụng xuất khẩu do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 4 Quyết định 184/QĐ-NH1 năm 1993 điều chỉnh lãi suất tiền vay và tiền gửi do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 5 Quyết định 145-QĐ/NH7 năm 1994 về lãi suất tiền gửi ngoại tệ tại Ngân hàng Nhà nước do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành