Ngày 17 tháng 05 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 12/1999/CT-TTg về việc tổng kết thực hiện Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau một thời gian áp dụng luật, làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý đối với khu vực kinh tế nhà nước trong giai đoạn tiếp theo.
Chỉ thị này áp dụng trực tiếp đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Tổng công ty nhà nước và toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước trên phạm vi cả nước.
Mục đích và yêu cầu của việc tổng kết- Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện tình hình triển khai, kết quả đạt được của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 sau hơn 3 năm đi vào thực tiễn.
- Chỉ rõ những mặt tích cực đã đạt được, đồng thời phát hiện những vướng mắc, bất cập, chồng chéo và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực thi các quy định pháp luật về doanh nghiệp nhà nước.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp Nhà nước, đáp ứng yêu cầu đổi mới, sắp xếp, cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước.
- Đánh giá việc thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, quản lý lao động và tiền lương.
- Phân tích sâu sắc mô hình tổ chức quản lý trong doanh nghiệp, đặc biệt là vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát tại các Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp độc lập quy mô lớn.
- Đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước với doanh nghiệp nhà nước; làm rõ mức độ phân cấp quản lý và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.
- Tổng kết công tác cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước và các hình thức sắp xếp, chuyển đổi sở hữu khác để rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý tiến hành tổng kết và xây dựng báo cáo gửi về các cơ quan đầu mối.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp cùng các cơ quan liên quan để tổng hợp kết quả, xây dựng báo cáo chung trình Thủ tướng Chính phủ.
- Các Tổng công ty nhà nước (đặc biệt là các Tổng công ty được thành lập theo Quyết định số 90/TTg và Quyết định số 91/TTg) tiến hành tự đánh giá, tổng kết sâu sắc về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
- Các Bộ, ngành, địa phương và các Tổng công ty nhà nước quy mô lớn phải hoàn thành báo cáo tổng kết gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 15 tháng 7 năm 1999.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tổng hợp, hoàn chỉnh báo cáo toàn diện để trình Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 8 năm 1999.
Chỉ thị 12/1999/CT-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Hội đồng quản trị các Tổng công ty nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung được giao tại Chỉ thị này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 12/1999/CT-TTg | Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1999 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TỔNG KẾT THỰC HIỆN LUẬT DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 4 năm 1995 là cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động và đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước, đã tạo điều kiện nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do môi trường kinh doanh và điều kiện hoạt động của doanh nghiệp nhà nước có nhiều thay đổi nên một số quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước không còn phù hợp với cuộc sống. Bên cạnh đó, một số vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn chưa được điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp nhà nước, gây trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp và đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Để có thêm thông tin phục vụ việc nghiên cứu soạn thảo Luật Doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi) theo định hướng đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII); đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; khắc phục những hạn chế và tồn tại của Luật hiện hành; đồng thời, tăng cường hơn nữa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp và hiệu quả quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 tiến hành tổng kết, đánh giá những việc làm được và chưa làm được, xác định rõ nguyên nhân; kiến nghị những nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới trong Luật Doanh nghiệp nhà nước; trong đó, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
1. Quy định về cách phân loại và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích; quyền và nghĩa vụ của các loại doanh nghiệp nhà nước nêu trên.
2. Quyền hạn và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; việc phân cấp thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước giữa các cơ quan đại diện sở hữu, ủy quyền đại diện chủ sở hữu cho các cơ quan nhà nước; sự phối hợp giữa các cơ quan được giao quyền đại diện sở hữu nhà nước; quyền hạn và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực, ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan này trong việc quản lý doanh nghiệp nhà nước.
3. Mô hình Tổng công ty.
Mô hình Tổng công ty 91 và Tổng công ty 90; tính chất liên kết của các đơn vị thành viên; quan hệ giữa Tổng công ty và doanh nghiệp thành viên; phân cấp quản lý trong Tổng công ty; quan hệ giữa Tổng công ty với các cơ quan quản lý nhà nước.
4. Mô hình Hội đồng quản trị.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp. Quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc.
Số lượng doanh nghiệp nhà nước đã thành lập Hội đồng quản trị, số lượng thành viên Hội đồng quản trị (bình quân, cao nhất, thấp nhất), cơ cấu thành phần, tiêu chuẩn và chế độ làm việc của Hội đồng quản trị.
5. Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước.
Quy định về việc quản lý và sử dụng vốn và tài sản nhà nước giao cho doanh nghiệp; quản lý doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh; phân phối lợi nhuận; chế độ kế toán, thống kê; chế độ công khai báo cáo tài chính hàng năm... đối với từng loại hình doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp hoạt động công ích, Tổng công ty 91, Tổng công ty 90 và doanh nghiệp thành viên).
6. Quản lý phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp khác.
Tình hình huy động, quản lý và sử dụng phần vốn góp từ bên ngoài vào doanh nghiệp nhà nước và quản lý phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước vào các doanh nghiệp khác (số lượng doanh nghiệp nhà nước thu hút vốn từ bên ngoài, số doanh nghiệp nhà nước có vốn góp ở các doanh nghiệp khác, số lượng doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước do các doanh nghiệp nhà nước góp vốn thành lập và đăng ký theo Luật Công ty, số doanh nghiệp nhà nước liên doanh với nước ngoài, tỷ lệ góp vốn, hình thức góp vốn, cơ chế quản lý phần vốn này).
Tình hình thu hút vốn của cán bộ, công nhân viên (số lượng doanh nghiệp nhà nước có thu hút vốn của cán bộ công nhân viên nhưng chưa chuyển thành công ty cổ phần, cơ chế, tổ chức quản lý).
Đánh giá các quy định và việc thực hiện chuyển đổi sở hữu ở các doanh nghiệp nhà nước; chức năng, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, của người trực tiếp quản lý phần vốn góp của nhà nước ở các doanh nghiệp khác và những tồn tại, vướng mắc cần giải quyết (đặc biệt là vấn đề mua lại, chuyển nhượng phần vốn góp, quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa).
7. Đánh giá và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách khác của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước.
Trong quá trình tổng kết việc thực hiện Luật Doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 chú ý đánh giá tính đặc thù trong tổ chức, quản lý doanh nghiệp nhà nước do Bộ, ngành, địa phương, Tổng công ty quản lý; sự cần thiết phải quy định các điểm đặc thù này trong Luật Doanh nghiệp nhà nước.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị này; bảo đảm mục đích, yêu cầu và gửi báo cáo tổng kết về Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính phủ chậm nhất vào ngày 15 tháng 6 năm 1999.
|
| Ngô Xuân Lộc (Đã ký)
|