Chỉ thị 137-CT do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành nhằm tăng cường công tác bảo vệ bí mật quốc gia, nâng cao cảnh giác cách mạng và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới. Văn bản tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo mật thông tin, tài liệu và tài sản của Nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị này áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân. Trong đó, văn bản đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức trực tiếp làm việc trong các bộ phận trọng yếu, cơ mật.
Nội dung cốt lõi của Chỉ thị 137-CT
1. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ bí mật quốc gia
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về ý thức cảnh giác cách mạng, trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước.
- Khắc phục triệt để những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, chủ quan, lơ là trong việc quản lý và tiếp xúc với các thông tin mật.
- Xác định rõ việc bảo vệ bí mật quốc gia là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của mọi cấp, mọi ngành.
2. Rà soát, phân loại và xác định danh mục bí mật quốc gia
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm rà soát lại toàn bộ các danh mục bí mật thuộc ngành, địa phương mình quản lý.
- Phân loại rõ ràng các mức độ mật để có biện pháp bảo vệ phù hợp, tránh tình trạng lạm dụng đóng dấu mật tràn lan hoặc bỏ sót thông tin cần bảo vệ.
- Kịp thời sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật quốc gia cho phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển của đất nước.
3. Chấn chỉnh công tác quản lý tài liệu, vật mang bí mật nhà nước
- Siết chặt quy trình soạn thảo, in ấn, sao chụp, vận chuyển, giao nhận và lưu trữ các tài liệu, hiện vật mang nội dung bí mật quốc gia.
- Nghiêm cấm việc tự ý mang tài liệu mật ra khỏi cơ quan, đơn vị hoặc cung cấp thông tin mật cho những người không có trách nhiệm khi chưa được phép của cấp có thẩm quyền.
- Quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin liên lạc, thiết bị kỹ thuật dùng để truyền đưa thông tin mật, bảo đảm tuyệt đối an toàn, không để bị rò rỉ, mất mát.
4. Quản lý quan hệ tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Quy định chặt chẽ thủ tục, nội dung tiếp xúc, làm việc và cung cấp thông tin cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Cán bộ, công chức khi quan hệ với người nước ngoài phải thực hiện đúng nguyên tắc phát ngôn và báo cáo đầy đủ nội dung làm việc với cấp trên có thẩm quyền.
- Ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng hợp tác quốc tế để thu thập tình báo, bí mật quốc gia.
5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm
- Lực lượng Công an nhân dân phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật quốc gia.
- Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong công tác bảo mật để có biện pháp khắc phục ngay.
- Xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi làm lộ, mất cảnh giác hoặc cố ý phá hoại, đánh cắp bí mật quốc gia.
Hiệu lực thi hành
Chỉ thị 137-CT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc và báo cáo kết quả lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng theo định kỳ.
| CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 137-CT | Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 1989 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC BẢO VỆ BÍ MẬT QUỐC GIA
Nguyên nhân một phần do quy chế bảo vệ bí mật quốc gia của ta ban hành đã lâu, chậm được sửa đổi, bổ xung, nhưng chủ yếu vẫn là do lãnh đạo nhiều cơ quan, đơn vị buông lỏng công tác bảo vệ bí mật quốc gia và cơ quan chức năng chưa làm đầy đủ trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra các cấp, các ngành, các cơ quan trong việc tổ chức thực hiện các quy định về công tác bảo mật.
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng yêu cầu lãnh đạo các cấp, các ngành, các cơ quan nghiêm khắc kiểm điểm và có kế hoạch chấn chỉnh ngay tình trạng nói trên: Trước mắt, yêu cầu từng cơ quan, đơn vị phải thực hiện tốt một số việc sau đây:
1. Tổ chức sơ kết việc thực hiện Chỉ thị số 2O8-CT ngày 24-6-1985 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, xác định những việc đã làm được, những thiếu sót, tồn tại, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và có kế hoạch sửa chữa khuyết điểm; xử lý kỷ luật những trường hợp vi phạm nghiêm trọng để giáo dục cán bộ, công nhân viên nghiêm chỉnh thực hiện quy chế bảo vệ bí mật quốc gia. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy chế bảo mật của cơ quan, đơn vị cho phù hợp với yêu cầu mới; định kỳ 6 tháng, 1 năm vào dịp sơ kết, tổng kết công tác của cơ quan, đơn vị, cần kiểm điểm việc thực hiện quy chế bảo mật nhằm kịp thời uốn nắn, sửa chữa khuyết điểm, lệch lạc.
2. Từng Bộ, Uỷ ban Nhà nước, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu, từng cơ quan, đơn vị cần xác định những vấn đề thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác của ngành, cơ quan, đơn vị phù hợp với yêu cầu bảo vệ bí mật quốc gia trong tình hình hiện nay, phổ biến cho mọi cán bộ, công nhân viên trong ngành, cơ quan, đơn vị biết để thực hiện. Cần lập thành danh mục cụ thể và có biện pháp bảo vệ chu đáo các hồ sơ, tài liệu này, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ đăng ký, quản lý việc in ấn, phát hành, sử dụng, lưu giữ, bảo quản tài liệu theo đúng các quy định của Nhà nước về công tác bảo mật.
3. Từ nay về sau, cơ quan, đơn vị nào có tài liệu thuộc loại mật và lưu hành nội bộ bị mất, bị lọt ra ngoài thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó phải truy xét, xử lý nghiêm minh người vi phạm và chịu trách nhiệm trước cấp trên về mọi hậu quả xẩy ra.
4. Bộ Nội vụ có trách nhiệm sao gửi các ngành, các cấp những văn bản cần thiết về bảo vệ bí mật quốc gia của Đảng và Nhà nước đã ban hành và hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện Chỉ thị này; phối hợp với các ngành có liên quan giúp Hội đồng Bộ trưởng soạn thảo Pháp lệnh bảo vệ bí mật quốc gia trình Hội đồng Nhà nước xét ban hành, để thay thế quy chế bảo vệ bí mật quốc gia hiện hành, có những vấn đề không còn phù hợp.
Nhận được Chỉ thị này, yêu cầu các Bộ, các ban, ngành ở Trung ương, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có kế hoạch khẩn trương triển khai thực hiện, chậm nhất đến hết tháng 1O-1989 phải làm xong những việc nêu trong Chỉ thị, có báo cáo gửi về Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, đồng gửi Bộ Nội vụ, để tổng hợp báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký)
|
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Nghị định 84- HĐBT năm 1992 ban hành "Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước" do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Thông tư 06/TT(A11) năm 1992 hướng dẫn Nghị định 84/HĐBT về bảo vệ bí mật Nhà nước do Bộ Nội vụ ban hành
- 3 Quyết định 03/2000/QĐ-VPCP về Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước thuộc Văn phòng Chính phủ quản lý do Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1 Nghị định 84- HĐBT năm 1992 ban hành "Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước" do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Thông tư 06/TT(A11) năm 1992 hướng dẫn Nghị định 84/HĐBT về bảo vệ bí mật Nhà nước do Bộ Nội vụ ban hành
- 3 Quyết định 03/2000/QĐ-VPCP về Quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước thuộc Văn phòng Chính phủ quản lý do Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành