Chỉ thị 14/CT-TTg năm 2018 được Thủ tướng Chính phủ ban hành trong bối cảnh tình hình an toàn thông tin mạng tại Việt Nam diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự gia tăng của các cuộc tấn công bằng phần mềm độc hại (malware) nhắm vào các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước. Chỉ thị này đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực chủ động phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các nguy cơ mất an toàn thông tin trên phạm vi cả nước.
1. Các yêu cầu trọng tâm đối với các Bộ, ngành, địa phương và tổ chức nhà nước
Để tăng cường bảo vệ hệ thống thông tin, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan, tổ chức thực hiện nghiêm túc các biện pháp kỹ thuật và quản lý sau:
- Triển khai giải pháp phòng chống phần mềm độc hại tập trung: Tất cả các máy tính, máy chủ trong hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước phải được cài đặt phần mềm phòng, chống mã độc. Giải pháp này phải có khả năng quản lý tập trung, tự động cập nhật mẫu nhận diện và chia sẻ thông tin giám sát về Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.
- Xây dựng phương án ứng phó sự cố: Chủ động xây dựng kế hoạch, quy trình và bố trí nhân lực, kinh phí để sẵn sàng ứng phó, khắc phục khi xảy ra sự cố lây nhiễm mã độc quy mô lớn.
- Phân vùng mạng và kiểm soát truy cập: Thực hiện phân chia vùng mạng nội bộ hợp lý, thiết lập các chính sách kiểm soát truy cập nghiêm ngặt giữa các vùng mạng để hạn chế tối đa khả năng lây lan của phần mềm độc hại.
- Định kỳ kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin: Tiến hành đánh giá định kỳ đối với các hệ thống thông tin quan trọng nhằm phát hiện sớm các lỗ hổng bảo mật và các dấu hiệu bị xâm nhập.
2. Trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông
Bộ Thông tin và Truyền thông đóng vai trò chủ trì, điều phối các hoạt động phòng, chống phần mềm độc hại trên phạm vi toàn quốc với các nhiệm vụ cụ thể:
- Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật: Ban hành các hướng dẫn kỹ thuật về phòng, chống phần mềm độc hại; tiêu chuẩn kết nối, chia sẻ dữ liệu giám sát mã độc giữa các cơ quan, tổ chức với Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia.
- Vận hành hệ thống giám sát quốc gia: Tổ chức giám sát, phát hiện và cảnh báo sớm các chiến dịch tấn công mạng, xu hướng phát tán mã độc tại Việt Nam.
- Công bố danh sách đen: Định kỳ cập nhật và công bố danh sách các địa chỉ IP, tên miền độc hại, các dòng mã độc nguy hiểm để các cơ quan, tổ chức chủ động chặn lọc.
- Hỗ trợ ứng cứu sự cố: Chỉ đạo ứng cứu, khắc phục sự cố khẩn cấp khi có yêu cầu từ các Bộ, ngành, địa phương.
3. Trách nhiệm của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng
Hai bộ ngành trọng yếu này có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng:
- Bộ Công an: Chủ trì công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mạng sử dụng phần mềm độc hại để phá hoại, đánh cắp thông tin; bảo đảm an ninh thông tin cho các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
- Bộ Quốc phòng: Bảo đảm an toàn thông tin, phòng chống mã độc cho các hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng; phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc chia sẻ thông tin đe dọa mạng.
4. Trách nhiệm của các doanh nghiệp viễn thông và cung cấp dịch vụ Internet (ISP)
Các doanh nghiệp ISP đóng vai trò là chốt chặn quan trọng tại cửa ngõ kết nối Internet:
- Chặn lọc mã độc từ nguồn: Triển khai các giải pháp kỹ thuật trên hạ tầng mạng để phát hiện, ngăn chặn việc phát tán phần mềm độc hại và kết nối đến các máy chủ điều khiển (C&C Server) của tin tặc.
- Phối hợp chia sẻ thông tin: Kịp thời cung cấp thông tin, số liệu về tình hình lây nhiễm mã độc trong mạng lưới của mình cho Bộ Thông tin và Truyền thông khi có yêu cầu.
- Hỗ trợ khách hàng: Cảnh báo và hỗ trợ người dùng Internet xử lý, bóc gỡ phần mềm độc hại khi phát hiện thiết bị của khách hàng bị nhiễm mã độc.
5. Ý nghĩa của Chỉ thị 14/CT-TTg năm 2018
Chỉ thị 14/CT-TTg năm 2018 là một văn bản pháp lý quan trọng, tạo cơ sở đồng bộ để các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tại Việt Nam nâng cao năng lực phòng thủ trước các hiểm họa an ninh mạng. Việc thực hiện nghiêm túc chỉ thị này góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền số quốc gia và an toàn thông tin cho các hoạt động kinh tế - xã hội.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 14/CT-TTg | Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2018 |
Thời gian vừa qua, công nghệ thông tin đã và đang được ứng dụng vào mọi mặt đời sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong xu hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sẽ ngày càng có nhiều thiết bị thông minh kết nối mạng. Những thiết bị này khi bị lây nhiễm các loại phần mềm độc hại (gọi tắt là mã độc) sẽ gây mất an toàn thông tin, tiềm ẩn nguy cơ khó lường. Trong năm 2016 và năm 2017, một số cuộc tấn công mạng sử dụng mã độc làm thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều cơ quan, tổ chức ở Việt Nam.
Các cơ quan, tổ chức ở Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều giải pháp khác nhau trong việc xử lý mã độc. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được chưa cao, khả năng chia sẻ thông tin thấp. Thực trạng lây nhiễm mã độc tại Việt Nam hiện nay rất đáng báo động. Đặc biệt, nhiều trường hợp tấn công mã độc mà cơ quan chức năng không phản ứng kịp thời để phát hiện, phân tích và gỡ bỏ.
Để nâng cao năng lực phòng, chống phần mềm độc hại, cải thiện mức độ tin cậy của quốc gia trong hoạt động giao dịch điện tử, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:
a) Khẩn trương phân loại, xác định cấp độ an toàn hệ thống thông tin và xây dựng phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ phù hợp với quy định của pháp luật và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Thời hạn hoàn thành xác định hệ thống thông tin cấp độ 4, cấp độ 5: Tháng 11 năm 2018.
b) Tăng cường sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử tại các đơn vị, tổ chức trong phạm vi bộ, ngành, địa phương mình.
c) Bảo đảm có giải pháp phòng, chống mã độc bảo vệ cho 100% máy chủ, máy trạm, thiết bị đầu cuối liên quan và có cơ chế tự động cập nhật phiên bản hoặc dấu hiệu nhận dạng mã độc mới. Thời hạn hoàn thành: Tháng 12 năm 2018.
Giải pháp phòng, chống mã độc được đầu tư mới hoặc nâng cấp cần có chức năng cho phép quản trị tập trung; có dịch vụ, giải pháp hỗ trợ kỹ thuật 24/7, có khả năng phản ứng kịp thời trong việc phát hiện, phân tích và gỡ bỏ phần mềm độc hại; có thể chia sẻ thông tin, dữ liệu thống kê tình hình lây nhiễm mã độc với hệ thống kỹ thuật của cơ quan chức năng có thẩm quyền, tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông và quy định của pháp luật.
d) Trong các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin phải có cấu phần phù hợp cho giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, giải pháp phòng, chống mã độc.
đ) Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc khi mua sắm các thiết bị điện tử có kết nối Internet (như camera giám sát, router, modem DSL v.v...) cần thực hiện rà soát, kiểm tra, đánh giá về an toàn thông tin; trước khi đưa vào sử dụng cần thiết lập cấu hình an toàn thông tin phù hợp với quy định, tuyệt đối không sử dụng cấu hình mặc định.
e) Định kỳ thực hiện kiểm tra, đánh giá tổng thể về an toàn thông tin theo quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư số 03/2017/TT-BTTTT ngày 24 tháng 4 năm 2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông; tổ chức theo dõi, thống kê chỉ số lây nhiễm mã độc trên các thiết bị đầu cuối, các hệ thống thông tin trong phạm vi bộ, ngành, địa phương mình, định kỳ hàng quý báo cáo về Bộ Thông tin và Truyền thông trước ngày 20 của tháng cuối cùng trong quý.
g) Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn nâng cao nhận thức, kỹ năng xử lý các mối nguy hại của mã độc và trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong công tác phòng, chống mã độc trong phạm vi bộ, ngành, địa phương mình.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm:
a) Phê duyệt các nội dung theo thẩm quyền và tổ chức triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực phòng, chống phần mềm độc hại, cải thiện mức độ tin cậy quốc gia trong hoạt động giao dịch điện tử.
b) Tận dụng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện có để thiết lập hệ thống kỹ thuật chủ động theo dõi, rà quét phát hiện mã độc trên không gian mạng Việt Nam; kịp thời cảnh báo, yêu cầu xử lý, bóc gỡ. Thời hạn hoàn thành: Tháng 6 năm 2018.
c) Xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn kết nối, trao đổi, chia sẻ thông tin, dữ liệu về mã độc giữa hệ thống kỹ thuật của cơ quan chức năng liên quan với giải pháp phòng, chống mã độc ở các bộ, ngành, địa phương, tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Thời hạn hoàn thành: Tháng 6 năm 2018.
d) Thành lập và duy trì hoạt động Nhóm chuyên gia để phối hợp phân tích, xác định, phát hiện ra các mã độc đặc biệt nguy hiểm, các mạng máy tính nhiễm mã độc lớn; tư vấn giải pháp xử lý, bóc gỡ.
đ) Tổ chức phát động và chỉ đạo các chiến dịch bóc gỡ mã độc, mạng máy tính nhiễm mã độc trên diện rộng với sự tham gia của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet (ISP) và các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và an toàn thông tin.
e) Xây dựng và vận hành hệ thống phân tích mã độc trên cơ sở hệ thống máy chủ tên miền DNS quốc gia từ nguồn kinh phí được phép trích lại trong hoạt động thu phí duy trì sử dụng tên miền quốc gia “.vn” và địa chỉ Internet (IP) ở Việt Nam theo quy định của pháp luật. Sử dụng hiệu quả hệ thống này để tham gia xử lý mã độc lây nhiễm trên không gian mạng Việt Nam, phối hợp xử lý sự cố, triển khai việc giám sát về mặt kỹ thuật quá trình thực thi xử lý sự cố của các doanh nghiệp ISP, đảm bảo tài nguyên Internet Việt Nam, mạng Internet Việt Nam phát triển, an toàn, tin cậy.
g) Chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, phổ biến, tập huấn nâng cao nhận thức về tác hại và kỹ năng, phương thức phòng, chống mã độc, lồng ghép vào các Đề án về đào tạo, tuyên truyền đã được phê duyệt.
h) Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng của Bộ Công an trong các chiến dịch bóc gỡ mã độc đối với các hệ thống thông tin chứa bí mật nhà nước, phục vụ công tác bảo đảm an ninh quốc gia.
i) Chỉ đạo, đôn đốc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet (các ISP):
- Xây dựng và công bố quy trình thông báo, hướng dẫn, khuyến nghị xử lý mã độc, trong đó, xác định rõ đầu mối, quy trình, trách nhiệm xử lý khi phát hiện ra mã độc thông thường, mã độc nguy hiểm hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Thời hạn hoàn thành: Tháng 6 năm 2018;
- Thiết lập hệ thống kỹ thuật cho phép theo dõi tình hình lây nhiễm mã độc trên phạm vi mạng lưới của mình; có khả năng kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống kỹ thuật của cơ quan chức năng. Thời hạn hoàn thành: Tháng 7 năm 2018;
- Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho cán bộ và khách hàng của mình về các mối nguy hại của mã độc và phương thức phòng, chống;
- Phối hợp với cơ quan chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc phân tích nhật ký phân giải tên miền (DNS) để xử lý mã độc. Chủ động rà quét, xử lý, bóc gỡ mã độc đã theo dõi, phát hiện được; chủ trì bóc gỡ, ngăn chặn mã độc có nguồn gốc từ các hệ thống của người dùng trong mạng lưới của mình có dấu hiệu tấn công tới các hệ thống khác.
k) Chỉ đạo, đôn đốc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu trữ web (hosting), dịch vụ trung tâm dữ liệu (data center):
- Xây dựng và công bố quy trình thông báo, hướng dẫn, khuyến nghị xử lý mã độc, trong đó, xác định rõ đầu mối, quy trình, trách nhiệm xử lý khi phát hiện ra mã độc thông thường, mã độc nguy hiểm hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Thời hạn hoàn thành: Tháng 6 năm 2018.
- Phối hợp với ISP và chủ quản hệ thống thông tin hoặc đơn vị vận hành hệ thống thông tin để bóc gỡ mã độc ra khỏi hệ thống thông tin trong phạm vi quản lý của mình;
- Thực hiện bóc gỡ mã độc ra khỏi hệ thống thông tin trong phạm vi quản lý của mình hoặc thực hiện cách ly hệ thống bị lây nhiễm mã độc nếu tổ chức, cá nhân thuê dịch vụ không đủ năng lực thực hiện.
l) Chỉ đạo, đôn đốc các doanh nghiệp sản xuất phần mềm phòng, chống mã độc:
- Công bố quy trình phản ứng và cập nhật dấu hiệu nhận dạng cho các mẫu mã độc mới vào sản phẩm chống mã độc đang cung cấp trên thị trường Việt Nam;
- Phối hợp với cơ quan chức năng trong việc xây dựng và cung cấp các công cụ, giải pháp để loại bỏ mã độc trên diện rộng;
- Thiết lập các hệ thống kỹ thuật cho phép chia sẻ thông tin về tình hình lây nhiễm mã độc tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông với cơ quan chức năng có thẩm quyền và các ISP.
m) Hướng dẫn, điều phối, đôn đốc thực hiện Chỉ thị này. Theo dõi, tổng hợp, đánh giá chỉ số lây nhiễm phần mềm độc hại ở các bộ, ngành, địa phương, coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ bảo đảm an toàn thông tin của các bộ, ngành, địa phương. Định kỳ hàng quý tổng hợp tình hình báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
6. Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA) có trách nhiệm:
a) Định kỳ hàng năm thực hiện chương trình khảo sát, đánh giá chỉ số lây nhiễm mã độc tại Việt Nam. Tổ chức khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của người sử dụng đối với các giải pháp phòng, chống mã độc; bình chọn, tôn vinh giải pháp phòng, chống mã độc tiêu biểu.
b) Tổ chức nghiên cứu, phân tích phương pháp thống kê về tình hình lây nhiễm phần mềm độc hại trong báo cáo do các doanh nghiệp trong và ngoài nước công bố; thúc đẩy việc hợp tác, chia sẻ thông tin, dữ liệu về mã độc giữa các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
c) Phát động hội viên tham gia các chiến dịch bóc gỡ mã độc, mạng máy tính nhiễm mã độc trên diện rộng. Chủ động kết hợp tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về tác hại và phương thức phòng, chống mã độc tại sự kiện Ngày An toàn thông tin Việt Nam và cuộc thi Sinh viên với An toàn thông tin hàng năm.
|
Nơi nhận: | THỦ TƯỚNG |
- 1 Công văn 66/BTTTT-CATTT năm 2016 đôn đốc thực hiện biện pháp phòng, chống thư điện tử rác, thư điện tử giả mạo, phát tán phần mềm, thông tin độc hại do Bộ Thông tin và Truyền Thông ban hành
- 2 Công văn 481/BTTTT-CATTT năm 2018 về đánh giá mức độ bảo đảm an toàn thông tin mạng do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 3 Công văn 272/CNTT-CSHT năm 2018 về tăng cường đảm bảo an toàn dữ liệu số trên môi trường mạng do Cục Công nghệ thông tin ban hành
- 1 Công văn 66/BTTTT-CATTT năm 2016 đôn đốc thực hiện biện pháp phòng, chống thư điện tử rác, thư điện tử giả mạo, phát tán phần mềm, thông tin độc hại do Bộ Thông tin và Truyền Thông ban hành
- 2 Nghị định 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ
- 3 Thông tư 03/2017/TT-BTTTT hướng dẫn Nghị định 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 4 Công văn 481/BTTTT-CATTT năm 2018 về đánh giá mức độ bảo đảm an toàn thông tin mạng do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 5 Công văn 272/CNTT-CSHT năm 2018 về tăng cường đảm bảo an toàn dữ liệu số trên môi trường mạng do Cục Công nghệ thông tin ban hành