Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tóm tắt Chỉ thị 14/CT-UBND năm 2007 của UBND tỉnh Cao Bằng

Chỉ thị 14/CT-UBND được Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành nhằm mục đích tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Trong bối cảnh hoạt động khai thác khoáng sản có nhiều diễn biến phức tạp, Chỉ thị này đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập lại trật tự kỷ cương, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại địa phương.

1. Bối cảnh ban hành và mục tiêu cốt lõi của Chỉ thị

Trong những năm đầu thập niên 2000, Cao Bằng là địa phương có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú nhưng việc quản lý còn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng khai thác trái phép, thất thoát tài nguyên và ô nhiễm môi trường diễn ra tại nhiều nơi. Chỉ thị 14/CT-UBND được ban hành nhằm đạt được các mục tiêu sau:

  • Chấn chỉnh các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản đi vào nề nếp, tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Luật Khoáng sản.
  • Ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt là các loại quặng kim loại quý, than, cát sỏi lòng sông.
  • Nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương và các sở, ban, ngành liên quan trong việc giám sát địa bàn.
  • Bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo an toàn lao động và an ninh trật tự tại các khu vực có hoạt động khoáng sản.

2. Nhiệm vụ cụ thể của các Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh

Chỉ thị giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng cơ quan chuyên môn nhằm tạo sự phối hợp đồng bộ trong công tác quản lý:

  • Sở Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, quy hoạch các vùng khoáng sản; tham mưu cho UBND tỉnh trong việc cấp phép, gia hạn hoặc thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai, khoáng sản và bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp.
  • Sở Công nghiệp (nay là Sở Công Thương): Chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản; kiểm tra việc thực hiện thiết kế mỏ, an toàn kỹ thuật trong khai thác và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp.
  • Công an tỉnh: Phối hợp với các lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi khai thác, vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản trái phép; đảm bảo an ninh trật tự tại các địa bàn trọng điểm về khoáng sản.
  • Sở Tài chính và Cục Thuế tỉnh: Tăng cường quản lý thu thuế, phí bảo vệ môi trường, tiền ký quỹ phục hồi môi trường trong hoạt động khoáng sản, chống thất thu ngân sách nhà nước.

3. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã

Chỉ thị nhấn mạnh vai trò quản lý trực tiếp tại địa bàn của chính quyền cơ sở:

  • Ủy ban nhân dân cấp huyện: Chịu trách nhiệm toàn diện trước UBND tỉnh về tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn quản lý. Có nhiệm vụ chỉ đạo các lực lượng chức năng của huyện giải tỏa dứt điểm các tụ điểm khai thác trái phép; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường của các cơ sở khai thác.
  • Ủy ban nhân dân cấp xã: Là cấp quản lý trực tiếp, có trách nhiệm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép ngay từ khi mới phát sinh; báo cáo kịp thời lên UBND cấp huyện để có biện pháp xử lý đối với các trường hợp vượt quá thẩm quyền.

4. Biện pháp xử lý vi phạm và yêu cầu bảo vệ môi trường

Để nâng cao tính răn đe, Chỉ thị 14/CT-UBND đưa ra các chế tài và yêu cầu nghiêm ngặt:

  • Kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy phép đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm nghiêm trọng các quy định về khai thác khoáng sản, không thực hiện đúng cam kết bảo vệ môi trường hoặc gây mất an toàn lao động.
  • Yêu cầu bắt buộc các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường và tiến hành hoàn nguyên môi trường sau khi kết thúc quá trình khai thác.
  • Xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép kéo dài mà không có biện pháp giải quyết triệt để.

5. Ý nghĩa thực tiễn của văn bản

Chỉ thị 14/CT-UBND năm 2007 của tỉnh Cao Bằng là một bước đi quyết liệt nhằm đưa hoạt động khoáng sản vào khuôn khổ pháp luật. Văn bản này không chỉ giúp bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia quý giá mà còn góp phần bảo vệ môi trường sống của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương.

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 14/CT-UBND

Cao Bằng, ngày 19 tháng 9 năm 2007

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN

Trong thời gian qua, hoạt động khai thác, chế biến tài nguyên khoáng sản đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên khoáng sản phần lớn chỉ được tiêu thụ ở dạng tinh quặng sơ chế nên chưa phát huy được lợi thế về tiềm năng khoáng sản của tỉnh.

Tại Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI đã khẳng định: “Chấm dứt việc xuất khoáng sản ra khỏi địa bàn tỉnh (trừ quặng khai thác tại Ngườm Tráng và quặng đối lưu than cốc)” nhằm phục vụ chế biến sâu tại chỗ.

Để thực hiện chủ trương khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, chấm dứt việc xuất khoáng sản ra khỏi địa bàn tỉnh, phát huy lợi thế tiềm năng khoáng sản của tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ thị:

1. Chấm dứt việc xuất quặng sắt, mangan ra khỏi địa bàn tỉnh, trừ trường hợp xuất khẩu để đối lưu than cốc, quặng sắt khai thác tại mỏ Ngườm Tráng và trường hợp đặc biệt khác.

2. Đối với các mỏ, điểm mỏ đang được phép hoạt động:

- Nếu chưa có cơ sở chế biến, chưa có hợp đồng tiêu thụ cho chế biến trong tỉnh thì tạm ngừng hoạt động khai thác.

- Nếu đủ điều kiện về quy mô trữ lượng và đơn vị khai thác có năng lực tài chính thì cho phép đầu tư chế biến phù hợp với điều kiện của mỏ.

- Trường hợp không đủ điều kiện, năng lực đầu tư chế biến nhưng đã đầu tư cho khai thác được tiếp tục khai thác phục vụ cho các cơ sở chế biến trong tỉnh.

- Trường hợp đơn vị được cấp mỏ không đầu tư khai thác mà chỉ thuê khai thác thì thu hồi giấy phép khai thác.

3. Không cấp phép, không gia hạn giấy phép khai thác khoáng sản đối với các mỏ, điểm mỏ sắt, mangan nếu đơn vị xin cấp phép, gia hạn giấy phép khai thác không có cơ sở chế biến hoặc không cam kết cung cấp cho các cơ sở chế biến trong tỉnh.

4. Yêu cầu các cơ quan chức năng, các địa phương, doanh nghiệp khai thác khoáng sản thực hiện một số việc sau:

4.1. Sở Công nghiệp phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét tính toán cụ thể lượng xuất khẩu quặng để đối lưu than cốc phục vụ chế biến khoáng sản. Soạn thảo, trình Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh ban hành quy định cụ thể tiêu chí về chế biến sâu đối với từng loại khoáng sản.

4.2. Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công nghiệp giám sát, kiểm tra hoạt động khai thác và việc chấp hành Chỉ thị này của các tổ chức hoạt động khai thác khoáng sản; hướng dẫn cho các đơn vị xây dựng các dự án chế biến phù hợp với điều kiện nguồn nguyên liệu.

4.3. Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan rà soát lại các điểm mỏ đã được cấp phép khai thác không tự đầu tư khai thác, không đầu tư chế biến, cơ sở chế biến không hoạt động, không hợp đồng bán quặng cho các cơ sở chế biến trong tỉnh thì lập hồ sơ báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi mỏ.

4.4. Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, Cục Hải quan tỉnh: trong phạm vi quyền hạn của mình đảm bảo ngăn chặn các hành vi vận chuyển quặng trái phép ra khỏi địa bàn tỉnh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

4.5. Đối với các doanh nghiệp được cấp mỏ đang khai thác:

Có biện pháp chuyển hoạt động khai thác theo hướng đầu tư chế biến hoặc cam kết cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến trong tỉnh phù hợp với điều kiện của mỏ.

4.6. Các địa phương có hoạt động khai thác khoáng sản:

- Bảo vệ các khu vực khoáng sản, ngăn chặn mọi hoạt động khai thác, vận chuyển, xuất quặng trái phép.

- Có kế hoạch bảo vệ, giữ gìn trật tự, an ninh khu vực các mỏ tạm dừng khai thác chờ chế biến trên địa bàn.

- Tăng cường tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành các quy định về bảo vệ tài nguyên khoáng sản, các quy định hoạt động khoáng sản.

- Phối hợp với các doanh nghiệp bảo vệ các khu mỏ đang hoạt động theo quy định.

Chỉ thị này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ngành địa phương liên quan và các doanh nghiệp tham gia hoạt động khoáng sản thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này./.

 

 

CHỦ TỊCH




Lô Ích Giang

 

 

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 14/CT-UBND năm 2007 tăng cường quản lý hoạt động khoáng sản do tỉnh Cao Bằng ban hành

Số hiệu: 14/CT-UBND
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 19/09/2007
Nơi ban hành: Tỉnh Cao Bằng
Người ký: Lô Ích Giang
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 19/09/2007
Tình trạng: ● Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Tài nguyên - Môi trường
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 14/CT-UBND năm 2007 tăng cường quản l...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký