Tổng quan về Chỉ thị 147-TTg năm 1958
Chỉ thị 147-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành là một văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn khôi phục kinh tế sau cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam. Văn bản này tập trung chỉ đạo về chủ trương, chính sách và phương pháp thực hiện công tác thuế nông nghiệp năm 1958 tại các vùng đã hoàn thành cải cách ruộng đất, nhằm ổn định đời sống nhân dân và khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.
Các nội dung cốt lõi của Chỉ thị 147-TTg
Dưới đây là các chính sách và quy định trọng tâm được triển khai trong công tác thuế nông nghiệp năm 1958:
- Xác định sản lượng tính thuế ổn định: Thực hiện việc đo đạc, xác định sản lượng thu hoạch bình quân một cách chính xác và dân chủ. Việc ấn định sản lượng tính thuế phải dựa trên tình hình thực tế của từng vùng, tránh việc áp đặt quá cao gây ảnh hưởng đến đời sống của nông dân, đồng thời bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
- Chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp: Chỉ thị quy định rõ việc xem xét miễn hoặc giảm thuế đối với các hộ nông dân gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa, hoặc các gia đình chính sách, neo đơn, thiếu sức lao động. Điều này thể hiện tính nhân văn và sự quan tâm của Nhà nước đối với giai cấp nông dân sau cải cách ruộng đất.
- Khuyến khích tăng gia sản xuất và khai hoang: Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế đối với những diện tích đất mới khai hoang, phục hóa hoặc tăng vụ. Người dân được miễn thuế trong một thời hạn nhất định đối với phần sản lượng tăng thêm từ việc áp dụng kỹ thuật canh tác mới hoặc mở rộng diện tích gieo trồng.
- Phương thức thu thuế và vận động quần chúng: Công tác thu thuế nông nghiệp phải kết hợp chặt chẽ với việc tuyên truyền, giáo dục ý thức nghĩa vụ công dân của người nông dân. Các cơ quan chính quyền địa phương cần tổ chức thu thuế nhanh gọn, đúng thời vụ, tránh gây phiền hà cho nhân dân và ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, tham nhũng trong quá trình thu thuế.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Chỉ thị 147-TTg đóng vai trò quyết định trong việc củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn miền Bắc lúc bấy giờ. Bằng việc điều chỉnh chính sách thuế nông nghiệp hợp lý, Nhà nước đã tạo động lực mạnh mẽ cho nông dân yên tâm sản xuất, khôi phục kinh tế nông nghiệp sau những biến động của cuộc cải cách ruộng đất, đồng thời chuẩn bị cơ sở vật chất cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội những năm tiếp theo.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 147-TTg | Hà Nội, ngày 17 tháng 03 năm 1958 |
CHỈ THỈ
VỀ CHỦ TRƯƠNG CÔNG TÁC THUẾ NÔNG NGHIỆP NĂM 1958 Ở VÙNG ĐÃ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT.
Công tác thế nông nghiệp năm 1957 nói chung đã kết thúc.
Kết quả không được như dự kiến:
1. Mức thuế bị hụt
2. Thu không kịp thời vụ, bị kéo dài, không đủ số ghi thu.
Nguyên nhân có nhiều: do yêu cầu công tác đặt cao, thời gian thì gấp; dự kiến về diện tích, nhân khẩu nông nghiệp có chỗ chưa sát; công tác ở nông thôn còn gặp nhiều khó khăn; phần quan trọng vẫn là do công tác điều chỉnh diện tích, sản lượng ở nhiều nơi làm kém, chưa đạt yêu cầu.
Về mặt lãnh đạo, nói chung, các khu, tỉnh đã chú ý: nhưng, nhiều địa phương còn thiếu kiên quyết đối với những xã hoặc cán bộ không chấp hành chỉ thị, nghị quyết một cách nghiêm chỉnh, đối với những trường hợp cố tình dây dưa thuế v.v…
Trong dịp tổng kết công tác sắp tới, các địa phương cần đánh giá đúng thành tích và khó khăn, nhận rõ khuyết điểm; trên cơ sở đó mà định phương hướng nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ công tác thuế nông nghiệp năm 1958.
Để đảm bảo thu thuế gọn, đúng thời vụ, đủ mức, đủ số ghi thu;
Để ổn định cơ sở tính thuế, tạo điều kiện đưa dần dần công tác thuế nông nghiệp vào nền nếp và góp phần ổn định nông thôn;
Để củng cố mối liên hệ giữa Nhà nước và nông dân, nâng cao ý thức đóng góp cho nông dân;
Năm nay, các địa phương cần tiếp tục đặt vấn đề lãnh đạo công tác thuế nông nghiệp thành một vấn đề quan trọng, bắt tay ngay từ bây giờ vào việc làm thuế nông nghiệp theo các chủ trương sau đây:
1) Điều chỉnh diện tích, sản lượng, lập sổ thuế năm 1958:
Việc điều chỉnh diện tích, sản lượng cần làm gọn, với yêu cầu tương đối hợp lý, để kịp làm xong sổ thuế trước gặt mùa.
Cụ thể:
Về diện tích: không đặt vấn đề điều chỉnh lại toàn bộ. Yêu cầu chính là không để sót thửa; còn về diện tích từng thửa thi, nói chung, dựa vào cơ sở đã đạt trong năm 1957. Do đó, cần chú ý nhiều đến những nơi mà năm ngoái làm kém, những nơi có nhiều ruộng đất phục hồi đến hạn chịu thuế, có nhiều công điền, vùng đai trắng cũ, vùng bãi ven sông, vùng có nhiều ruộng đất của đồng bào đi Nam, v.v…
Về sản lượng, ở những nơi năm ngoái đã điều chỉnh được tốt thì soát lại một lần nữa để tính thuế năm 1958; ở những nơi mà năm ngoái chưa điều chỉnh hoặc đã điều chỉnh nhưng chưa tốt thì điều chỉnh lại.
Về việc ổn định sản lượng thì, chờ lập sổ thuế năm 1958 xong sẽ nghiên cứu. Nhưng, về mặt chỉ đạo, cần làm cho các cấp nhận rõ sự cần thiết phải cố gắng điều chỉnh sản lượng trong năm nay cho tốt.
Các địa phương căn cứ hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình mà tập trung lãnh đạo hoặc vào việc soát lại diện tích, hoặc vào việc điều chỉnh sản lượng, để đạt mức thuế và để làm gọn.
Sổ thuế năm 1958, chậm nhất, phải làm xong trước gặt mùa.
2) Việc cấp giấy chứng nhận ruộng đất cũng cần làm gấp. Nhưng, vì diện tích đến nay chưa nắm được chính xác, nên chưa thể căn cứ vào đó mà cấp. Việc cấp giấy chứng nhận sẽ tiến hành sau khi các địa phương đã tu chỉnh lại các bản đồ địa chính cũ, đo đạc lại ở những nơi cần thiết, lập lại sổ địa bạ. Công tác này sẽ bắt đầu từ trong năm nay và Chính phủ sẽ có chỉ thị riêng.
Song song với việc soát lại diện tích, các địa phương có thể phổ biến chủ trương này để nông dân yên tâm và để khuyến khích nông dân tích cực giúp vào việc soát lại diện tích tính thuế năm nay.
3) Thu thuế nông nghiệp vụ hạ:
Vì phải tiếp tục giải quyết vấn đề về diện tích, sản lượng nên vụ hạ năm nay, nói chung, vẫn phải tạm thu.
Song, từng địa phương, nhất là vùng đồng chiêm, nếu có khả năng lãnh đạo và do khu cân nhắc quyết định, có thể cho lập số thuế đầu năm để tránh được tạm thu thì tốt.
Đi đôi với việc chuẩn bị tạm thu, cần kiên quyết thanh toán hết số thuế thu thừa của dân, đồng thời kiên quyết tận thu số thuế thiếu và kiên quyết xử lý đối với những trường hợp cố trình dây dưa thuế.
Các cơ quan có trách nhiệm ở trung ương và địa phương cần có biện pháp nhằm giải quyết vấn đề thuế thiếu một cách tích cực, nhằm thông qua giải quyết vấn đề này, giáo dục nhân dân về nghĩa vụ đóng thuế, đề cao pháp luật của Nhà nước.
1) Để thực hiện các yêu cầu và chủ trương công tác thuế nông nghiệp trên đây, các cấp lãnh đạo ở địa phương cần hết sức coi trọng việc giáo dục nâng cao ý thức về nghĩa vụ đóng góp cho nông dân.
Việc giáo dục này không thể tách rời việc giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho nông dân.
2) Cần củng cố Ban thuế nông nghiệp xã. Chú ý động viên, khuyến khích cán bộ thuế nông nghiệp xã về mặt tinh thần, chiếu cố thích đáng về mặt vật chất và khen thưởng kịp thời. Trong khi chờ đợi Chính phủ có quy định chung về chính sách đối với cán bộ xã, đối với cán bộ chuyên trách thuế nông nghiệp tạm thời hoãn dân công và có phụ cấp trong thời gian làm thuế.
3) Ngoài ra, để chuẩn bị cho việc xây dựng lại ngành Địa chính, ngay từ bây giờ, các khu và tỉnh cần lập danh sách những cán bộ đã làm công tác địa chính hiện công tác ở các ngành thuộc địa phương mình; Bộ Tài chính sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ lập danh sách những cán bộ thuộc các cơ quan trung ương.
Chỉ thị này là chỉ thị về chủ trương công tác thuế nông nghiệp ở vùng đã cải cách ruộng đất.
Về chủ trương công tác thuế nông nghiệp ở miền núi, Bộ Tài chính sẽ chỉ thị sau.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.