Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Chỉ thị 20/CT-TTg năm 2017

Chỉ thị 20/CT-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 5 năm 2017 nhằm chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm giải quyết triệt để tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giảm bớt gánh nặng hành chính và tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển ổn định.

1. Nguyên tắc cốt lõi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp

Chỉ thị đề ra các nguyên tắc nghiêm ngặt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, cụ thể bao gồm:

  • Khi xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra phải bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo; không được thanh tra, kiểm tra quá một lần về cùng một nội dung đối với một doanh nghiệp trong một năm (trừ trường hợp thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật rõ ràng).
  • Các cơ quan có thẩm quyền phải phối hợp chặt chẽ để xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra liên ngành, tích hợp nhiều nội dung vào một cuộc thanh tra, kiểm tra duy nhất nhằm tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho doanh nghiệp.
  • Nội dung thanh tra, kiểm tra phải giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước được giao, không được mở rộng phạm vi một cách tùy tiện ngoài kế hoạch đã được phê duyệt.

2. Trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ

Thanh tra Chính phủ đóng vai trò chủ trì và điều phối hoạt động thanh tra trên phạm vi cả nước với các nhiệm vụ trọng tâm:

  • Tăng cường quản lý nhà nước về công tác thanh tra; chủ trì, phối hợp với Kiểm toán Nhà nước để xử lý chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động thanh tra và hoạt động kiểm toán.
  • Hướng dẫn thanh tra các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm bảo đảm đúng tinh thần của Chỉ thị, tránh trùng lặp về đối tượng, nội dung và thời gian thanh tra.
  • Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện cũng như các vướng mắc phát sinh.

3. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Các cơ quan quản lý ngành và địa phương có trách nhiệm trực tiếp trong việc phê duyệt và thực hiện kế hoạch thanh tra:

  • Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải chỉ đạo sát sao việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm.
  • Trường hợp phát hiện có sự trùng lặp, chồng chéo về đối tượng thanh tra giữa các cơ quan trung ương với địa phương hoặc giữa các sở, ngành tại địa phương, các bên phải chủ động phối hợp, thương lượng để thống nhất một đầu mối thực hiện hoặc báo cáo cơ quan cấp trên có thẩm quyền quyết định.
  • Công khai kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp đã được phê duyệt trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị để doanh nghiệp biết và giám sát.

4. Chấn chỉnh đạo đức công vụ và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm

Để bảo đảm tính nghiêm minh, Chỉ thị chú trọng đến việc kiểm soát quyền lực và đạo đức của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ:

  • Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động thanh tra, kiểm tra để sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà hoặc đòi hỏi các lợi ích vật chất, phi vật chất từ doanh nghiệp.
  • Xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy định của pháp luật đối với những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm trái quy định trong hoạt động thanh tra, kiểm tra.
  • Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới nếu để xảy ra tình trạng cán bộ dưới quyền có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý.

5. Ý nghĩa thực tiễn của Chỉ thị 20/CT-TTg

Chỉ thị 20/CT-TTg năm 2017 là bước đột phá mạnh mẽ trong cải cách thủ tục hành chính tại Việt Nam. Việc triển khai nghiêm túc chỉ thị này giúp:

  • Giảm thiểu tối đa sự phiền hà cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
  • Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tránh lãng phí ngân sách và nguồn nhân lực của các cơ quan thanh tra.
  • Củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư vào môi trường pháp lý và sự đồng hành của Chính phủ Việt Nam.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 20/CT-TTg

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2017

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC CHẤN CHỈNH HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong Chương trình hành động của Chính phủ. Theo tinh thần đó, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực thực hiện với nhiều biện pháp cụ thể, đặc biệt là đổi mới công tác xây dựng, phê duyệt và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua theo dõi tình hình và phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp thấy rằng, hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành nói riêng vẫn tồn tại những hạn chế, còn những vụ việc gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp; sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra chưa chặt chẽ; thời gian thanh tra kéo dài; nội dung tranh tra chưa rõ ràng, có khi vượt ra ngoài thẩm quyền quản lý; chậm ban hành kết luận thanh tra, chưa làm rõ được dấu hiệu vi phạm, kiến nghị xử lý chưa cụ thể...

Thực trạng nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên là sự phân công giữa các Bộ, ngành ở Trung ương và sự phân cấp, ủy quyền giữa các Bộ, ngành ở Trung ương và chính quyền địa phương chưa rõ ràng. Nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại nói trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêm túc quán triệt và chỉ đạo chặt chẽ công tác thanh tra thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao theo đúng quy định của Luật Thanh tra, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23 tháng 4 năm 2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra và đặc biệt là Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; trong đó, cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các nội dung sau đây:

1. Khi xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm không để xảy ra tình trạng thanh tra, kiểm tra quá 01 lần/năm đối với doanh nghiệp; trường hợp kế hoạch thanh tra trùng lặp, chồng chéo với hoạt động kiểm toán nhà nước thì chủ động phối hợp, trao đổi với Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ để thống nhất phương án xử lý theo quy định hiện hành, đảm bảo sự kế thừa kết quả thanh tra, kiểm toán, không làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp, cần tiến hành rà soát, điều chỉnh kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt theo tinh thần trên.

2. Chỉ đạo tiến hành các cuộc thanh tra theo đúng định hướng, kế hoạch thanh tra đã phê duyệt; nội dung thanh tra phải giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước được giao; chủ động kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch thanh tra khi cần thiết theo hướng không làm tăng số cuộc thanh tra; ban hành kết luận thanh tra phải đúng thời hạn theo quy định.

3. Trường hợp thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chỉ ban hành quyết định thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng; kết luận thanh tra, kiểm tra phải xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm. Người ra quyết định thanh tra, kiểm tra; trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra; công chức thanh tra chuyên ngành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kết luận, làm rõ nguyên nhân, mức độ vi phạm và việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức có liên quan theo các dấu hiệu đã được xác định là căn cứ để ra quyết định thanh tra, kiểm tra đột xuất. Không mở rộng phạm vi thanh tra, kiểm tra vượt quá nội dung của quyết định thanh tra, kiểm tra đột xuất.

4. Trường hợp phát hiện thấy nội dung, phạm vi thanh tra có chồng chéo, trùng lặp với cơ quan thực hiện chức năng thanh tra khác hoặc Kiểm toán nhà nước, Thủ trưởng cơ quan tiến hành thanh tra phải báo cáo ngay với Thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp, cơ quan thanh tra cấp trên và cơ quan, đơn vị có liên quan để có giải pháp phù hợp tránh chồng chéo, trùng lặp và đảm bảo tính kế thừa trong hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị.

5. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của mình; kịp thời phát hiện, xử lý chồng chéo, trùng lặp theo thẩm quyền về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra, kiểm tra; xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo.

6. Tổng Thanh tra Chính phủ phải tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm kịp thời phát hiện, xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra theo thẩm quyền; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo.

7. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra và các cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng chồng chéo, trùng lặp; quyết định thanh tra, kiểm tra thiếu căn cứ, không ban hành được kết luận thanh tra, kiểm tra theo các dấu hiệu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành.

8. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này, thường xuyên thông báo và định kỳ hàng quý báo cáo kết quả về Thanh tra Chính phủ.

Tổng Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và phối hợp với các Bộ, ngành và cơ quan, tổ chức liên quan tổng hợp, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện Chỉ thị này./.

 


Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tổng Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, V.I (3).

THỦ TƯỚNG




Nguyễn Xuân Phúc

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 20/CT-TTg năm 2017 về chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 20/CT-TTg
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 17/05/2017
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Nguyễn Xuân Phúc
Ngày công báo: 30/05/2017
Số công báo: Từ số 385 đến số 386
Ngày hiệu lực: 17/05/2017
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Doanh nghiệp
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 20/CT-TTg năm 2017 về chấn chỉnh hoạt...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký