Giới thiệu chung về Chỉ thị 25/2006/CT-UBND
Chỉ thị số 25/2006/CT-UBND được ban hành nhằm mục đích tăng cường công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trong bối cảnh giao lưu văn hóa và tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, văn bản này đóng vai trò định hướng chiến lược, cấp bách để bảo vệ bản sắc văn hóa Tây Nguyên, đặc biệt là Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.
Các nhiệm vụ trọng tâm trong bảo tồn di sản văn hóa vật thể
Đối với di sản văn hóa vật thể, Chỉ thị nhấn mạnh các giải pháp cụ thể nhằm gìn giữ các giá trị vật chất truyền thống của đồng bào các dân tộc:
- Bảo tồn kiến trúc truyền thống: Tập trung bảo vệ, tôn tạo và phục dựng các ngôi nhà dài truyền thống của người Êđê, nhà rông của người Ba Na, Gia Rai, nhà sàn của người M'nông và các công trình kiến trúc đặc trưng khác tại các buôn làng cổ.
- Quản lý và lưu giữ hiện vật: Tăng cường công tác sưu tầm, phân loại, kiểm kê và bảo quản các hiện vật lịch sử, công cụ lao động, nhạc cụ truyền thống (đặc biệt là các bộ cồng chiêng cổ), trang phục và trang sức truyền thống của các dân tộc thiểu số tại địa phương.
- Quy hoạch không gian buôn làng: Gắn liền việc bảo tồn kiến trúc với quy hoạch phát triển nông thôn mới, đảm bảo giữ gìn cảnh quan tự nhiên, nguồn nước và không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào.
Các giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn của các dân tộc Tây Nguyên, do đó Chỉ thị đề ra các định hướng sát thực tế nhằm bảo tồn và phát huy:
- Truyền dạy và phát huy nghệ thuật cồng chiêng: Tổ chức các lớp truyền dạy đánh cồng chiêng, chỉnh chiêng cho thế hệ trẻ ngay tại các buôn làng; duy trì và phát triển các đội chiêng, đội xoang ở cơ sở; định kỳ tổ chức các liên hoan, lễ hội cồng chiêng các cấp.
- Sưu tầm và biên dịch văn học dân gian: Đẩy mạnh việc sưu tầm, ghi âm, biên dịch và xuất bản các tác phẩm sử thi (Khan), dân ca, truyện cổ tích, luật tục của các dân tộc Êđê, M'nông, Gia Rai để tránh nguy cơ mai một theo thời gian.
- Phục dựng lễ hội truyền thống: Khôi phục và duy trì có chọn lọc các nghi lễ, lễ hội lành mạnh, giàu bản sắc như Lễ cúng bến nước, Lễ mừng lúa mới, Lễ thổi tai, góp phần thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
Nâng cao vai trò quản lý nhà nước và xã hội hóa
Để các chính sách đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả cao, Chỉ thị yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành:
- Tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố phải xây dựng kế hoạch cụ thể, đưa nhiệm vụ bảo tồn văn hóa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại di sản.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền: Giáo dục nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ đồng bào các dân tộc thiểu số, về lòng tự hào, tự tôn dân tộc và trách nhiệm tự bảo vệ di sản văn hóa của chính dân tộc mình.
- Xã hội hóa hoạt động bảo tồn: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động văn hóa truyền thống; gắn kết bảo tồn di sản với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái để tạo nguồn thu nhập bền vững cho người dân địa phương.
Ý nghĩa và tác động của Chỉ thị
Chỉ thị 25/2006/CT-UBND là cơ sở pháp lý quan trọng giúp tỉnh Đắk Lắk thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việc triển khai quyết liệt chỉ thị này không chỉ giúp giữ gìn kho tàng di sản quý báu của các dân tộc Tây Nguyên mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, du lịch bền vững, khẳng định vị thế văn hóa độc đáo của Đắk Lắk trên bản đồ di sản quốc gia và quốc tế.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 25/2006/CT-UBND | Buôn Ma Thuột, ngày 18 tháng 12 năm 2006 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC Ở ĐĂK LĂK
Di sản văn hóa (gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung và ở Đăk Lăk nói riêng, là cốt lõi của bản sắc văn hóa, cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và giao lưu văn hóa. Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, Chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã có nhiều hoạt động nhằm bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị Di sản văn hóa của các dân tộc ở Đăk Lăk, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, tỉnh ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các Chỉ thị 08/CT-UB ngày 21-4-1994 "Về bảo tồn văn hóa cồng chiêng", Chỉ thị số 16/CT-UB ngày 12-5-1998 "Về tăng cường bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh"; Quyết định số 2575/QĐ-UB ngày 02-11-1998 ban hành "Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội". Các văn bản này đã và đang góp phần tích cực vào việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc trong tỉnh.
Tuy nhiên, từ khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực thi hành (6-2001), các văn bản trên đã bộc lộ một số hạn chế, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Vì vậy, công tác quản lý Nhà nước về Di sản văn hóa ở Đăk Lăk chưa đạt được hiệu quả cao.
Để bảo tồn, phát huy Di sản văn hóa các dân tộc ở Đăk Lăk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ủy ban nhân dân tỉnh Chỉ thị:
1. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tăng cường chỉ đạo, tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân thực hiện Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa; có chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc.
2. Giao cho Sở Văn hóa Thông tin có trách nhiệm thống kê những di tích văn hóa trên địa bàn tỉnh đang bị hư hỏng, xuống cấp; chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng kế hoạch, lập dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích văn hóa, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. Kinh phí dành cho việc thực hiện bảo tồn di sản văn hóa dân tộc hàng năm được bố trí từ ngân sách sự nghiệp của tỉnh.
Tổ chức điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và lập hồ sơ Di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể; quy hoạch, lựa chọn phân loại các di tích danh thắng và lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận; có biện pháp phát huy các di sản văn hóa, nhất là văn hóa nhà dài, văn hóa cồng chiêng, văn hóa sử thi, văn hóa voi, văn hóa lễ hội, dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc trong tỉnh; đề nghị khen thưởng, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc.
3. Hàng năm, nhân ngày 23/11, "Ngày Di sản văn hóa Việt Nam", tỉnh tổ chức các hoạt động văn hóa, nhằm góp phần bảo tồn Di sản văn hóa các dân tộc ở Đăk Lăk.
Sở Văn hóa Thông tin chủ trì phối hợp với các Sở: Tài chính, Khoa học & Công nghệ, Kế hoạch & Đầu tư, Thương mại & Du lịch thực hiện công trình Địa chí Đăk Lăk theo chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh.
Sở Văn hóa - Thông tin phối hợp với Sở Thương mại & Du lịch có kế hoạch, khai thác hiệu quả các Di sản văn hóa các dân tộc ở Đăk Lăk phục vụ du lịch, đồng thời thông qua hoạt động du lịch góp phần bảo tồn, giữ gìn, tôn tạo và phát huy di sản văn hóa các dân tộc.
4. Báo Đăk Lăk, Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh, các cơ quan thông tấn, báo chí ở địa phương và Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh có kế hoạch, tổ chức tuyên truyền sự nghiệp bảo tồn, phát huy Di sản văn hóa các dân tộc Đăk Lăk, biểu dương gương người tốt việc tốt trong việc giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.
5. Sở Văn hóa Thông tin, Sở Thương mại & Du lịch, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên & Môi trường, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Cục Hải quan, Chi cục Thuế có kế hoạch phối hợp, chỉ đạo, kiểm tra nhằm ngăn chặn các hành vi chiếm đoạt trái phép, làm sai lệch giá trị di sản văn hóa, hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa; đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; mua bán, trao đổi trái phép bảo vật, cổ vật và di vật văn hóa thuộc di tích; lợi dụng việc bảo vệ di tích, di sản văn hóa để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật.
Yêu cầu Giám đốc các Sở, Ban, Ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố chịu trách nhiệm triển khai thực hiện, đồng thời định kỳ (quý, 6 tháng, năm) hoặc đột xuất báo cáo kết quả về Sở Văn hóa Thông tin (17 Phan Bội Châu, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk). Sở Văn hóa Thông tin có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo, đề xuất, kiến nghị trình UBND tỉnh để chỉ đạo kịp thời.
|
Nơi nhận: | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
- 1 Quyết định 689/QĐ-UBND năm 2013 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hoặc có chứa quy phạm pháp luật được rà soát năm 2012 do tỉnh Đắk Lắk ban hành
- 2 Chỉ thị 06/2012/CT-UBND về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc ở Đắk Lắk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- 1 Quyết định 689/QĐ-UBND năm 2013 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hoặc có chứa quy phạm pháp luật được rà soát năm 2012 do tỉnh Đắk Lắk ban hành
- 2 Chỉ thị 06/2012/CT-UBND về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc ở Đắk Lắk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- 3 Nghị quyết 63/2012/NQ-HĐND bảo tồn, phát huy di sản - không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2012 – 2015
- 4 Nghị quyết 304/NQ-HĐND năm 2013 thông qua Đề án Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên gắn với phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
- 5 Quyết định 2366/QĐ-UBND năm 2014 phê duyệt Đề án Sưu tầm và phổ cập điệu xòe mang bản sắc văn hóa các dân tộc Sơn La
- 1 Quyết định 689/QĐ-UBND năm 2013 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hoặc có chứa quy phạm pháp luật được rà soát năm 2012 do tỉnh Đắk Lắk ban hành
- 2 Chỉ thị 06/2012/CT-UBND về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc ở Đắk Lắk trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- 1 Luật di sản văn hóa 2001
- 2 Nghị định 92/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Di sản văn hoá
- 3 Nghị quyết 63/2012/NQ-HĐND bảo tồn, phát huy di sản - không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2012 – 2015
- 4 Nghị quyết 304/NQ-HĐND năm 2013 thông qua Đề án Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tỉnh Điện Biên gắn với phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
- 5 Quyết định 2366/QĐ-UBND năm 2014 phê duyệt Đề án Sưu tầm và phổ cập điệu xòe mang bản sắc văn hóa các dân tộc Sơn La