Ngày 22 tháng 10 năm 1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 282-CT về công tác quản lý người mắc bệnh phong. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chấn chỉnh, tăng cường các biện pháp phát hiện, điều trị, quản lý người bệnh phong, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội, xóa bỏ kỳ thị và giúp người bệnh tái hòa nhập cộng đồng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị áp dụng đối với các cơ quan y tế từ trung ương đến địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng và mọi công dân trong việc phối hợp thực hiện các chính sách chăm sóc, quản lý và điều trị người mắc bệnh phong trên phạm vi toàn quốc.
Nội dung cốt lõi của Chỉ thị 282-CT
1. Đẩy mạnh công tác phát hiện và điều trị bệnh nhân phong tại cộng đồng
- Yêu cầu ngành y tế chủ trì, phối hợp với các địa phương tổ chức điều tra, phát hiện sớm người mắc bệnh phong tại các vùng trọng điểm để kịp thời đưa vào quản lý, điều trị bằng các phương pháp y học hiện đại.
- Tập trung điều trị ngoại trú tại gia đình và cộng đồng đối với những trường hợp bệnh nhẹ hoặc đã qua giai đoạn lây nhiễm, nhằm giảm tải cho các cơ sở điều trị tập trung và giúp người bệnh không bị cách ly khỏi gia đình.
- Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong điều trị để nâng cao hiệu quả chữa trị, hạn chế tối đa các di chứng tàn tật cho người bệnh.
2. Củng cố và quản lý các cơ sở điều trị phong tập trung
- Tiến hành rà soát, củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các khu điều trị phong (trại phong) hiện có để đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc y tế tốt nhất cho người bệnh.
- Đối với những bệnh nhân phong bị tàn tật nặng, không còn khả năng lao động và không có nơi nương tựa, nhà nước bảo đảm kinh phí nuôi dưỡng và chăm sóc suốt đời tại các cơ sở điều trị tập trung.
- Tổ chức các hoạt động lao động liệu pháp, sản xuất tự túc phù hợp với sức khỏe của người bệnh tại các khu điều trị để họ vừa cải thiện đời sống, vừa có niềm tin vào cuộc sống.
3. Thực hiện công tác tuyên truyền, xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử
- Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục truyền thông trong nhân dân về bản chất khoa học của bệnh phong: Đây là một bệnh truyền nhiễm nhưng rất khó lây, hoàn toàn có thể chữa khỏi bằng thuốc và không di truyền.
- Nghiêm cấm mọi hành vi xa lánh, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người mắc bệnh phong và thân nhân của họ trong học tập, việc làm và sinh hoạt đời thường.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để những người bệnh đã được điều trị khỏi hoàn toàn (bệnh nhân phong đã ổn định) được trở về quê quán, tái hòa nhập cộng đồng và ổn định cuộc sống.
4. Phân công trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành và địa phương
- Bộ Y tế: Chịu trách nhiệm toàn diện về mặt chuyên môn; xây dựng kế hoạch phòng chống phong dài hạn; chỉ đạo hệ thống y tế cơ sở thực hiện tốt việc quản lý bệnh nhân; phối hợp với các bộ ngành liên quan để bảo đảm nguồn thuốc điều trị và kinh phí hoạt động.
- Ủy ban nhân dân các cấp: Có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo các ngành chức năng tại địa phương phối hợp với ngành y tế quản lý chặt chẽ người bệnh phong; hỗ trợ đất đai, phương tiện sản xuất và tạo điều kiện cho người bệnh phong đã ổn định có việc làm, ổn định đời sống tại địa phương.
- Các tổ chức đoàn thể, xã hội: Tích cực tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân giúp đỡ người bệnh phong; tổ chức các hoạt động từ thiện, hỗ trợ vật chất và tinh thần để người bệnh vượt qua khó khăn.
Hiệu lực thi hành
Chỉ thị 282-CT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 22 tháng 10 năm 1982). Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành chỉ thị này.
| CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 282-CT | Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 1982 |
CHỈ THỊ
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGƯỜI MẮC BỆNH PHONG
Trong những năm qua, ngành y tế và các cấp chính quyền nhiều địa phương đã có cố gắng trong việc tổ chức điều trị, chăm lo đời sống và quản lý người mắc bệnh phong.
Tuy vậy, trong cán bộ và nhân dân còn nhận thức không đúng về bệnh phong, người mắc bệnh phong thường bị hắt hủi, một số địa phương chưa tổ chức tốt việc điều trị và quan tâm giúp đỡ về đời sống để họ đi lang thang ở các thành phố, thị xã.
Hiện nay, dựa vào kết quả nghiên cứu khoa học, giới y học không còn xem bệnh phong là một bệnh nguy hiểm, khả năng lây lan của bệnh phong rất hạn chế, chỉ từ 1 đến 6 phần nghìn, dù là sống chung với người bị bệnh. Đối với những bệnh nhân đã uống thuốc điều trị liên tục 3 tháng trở lên thì không còn khả năng lây lan nữa. Hiện nay, ta đã có thuốc đặc trị có thể chữa khỏi được, không để lại di chứng, chỉ cần phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Để tiến hành thanh toán bệnh phong ở nước ta, trước mắt cần tăng cường quản lý người mắc bệnh phong, chấm dứt tình trạng để bệnh nhân đi lang thang các nơi, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng chỉ thị cho các ngành và các cấp có liên quan làm tốt các việc sau đây:
1. Đối với những bệnh nhân đi lang thang ở điạ phương nào thì Uỷ ban nhân dân địa phương đó có trách nhiệm thu gom, khám xác định bệnh và giải quyết theo các hướng sau:
a) Đối với các bệnh nhân còn ở giai đoạn hoạt tính, có khả năng lây lan thì đưa vào điều trị nội trú tại các khu, trại điều trị phong ở địa phương (nếu có), hoặc khoa da liễu của bệnh viện tỉnh, thành phố.
b) Đối với các bệnh nhân đã qua điều trị và nay đã ổn định thì đưa về nơi cư trú để sống với gia đình. Uỷ ban nhân dân địa phương có trách nhiệm tiếp nhận. Chính quyền xã và hợp tác xã có trách nhiệm giúp đỡ sắp xếp công việc làm, tạo điều kiện cho họ tham gia sản xuất tự túc, khi chưa tự túc được thì Uỷ ban nhân dân xã tổ chức cứu trợ hoặc đề nghị lên trên giải quyết.
c) Đối với những người tàn phế, hoặc già yếu không còn khả năng lao động, không có nơi nương tựa thì đưa vào các trại xã hội của đụa phương để nuôi dưỡng.
d) Đối với những người không muốn về gia đình, hoặc không xác định được nơi cư trú thì địa phương tổ chức cho họ lao động sản xuất, sinh sống phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
2. Ngành y tế cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ và nhân dân những kiến thức về bệnh phong, xoá bỏ những định kiến sai lầm về bệnh phong, để cán bộ và nhân dân tham gia việc phòng, chống, tiến tới thanh toán bệnh phong ở nước ta. Các cơ quan y tế phải cử cán bộ về tận nơi có người mắc bệnh phong đang điều trị ngoại trú hoặc ở tại nơi điều trị tập trung giải thích cho nhân dân, kể cả gia đình có người bị bệnh phong hiểu được đặc tính của bệnh, giúp đỡ người bệnh tham gia sản xuất, sinh sống và yên tâm điều trị.
3 . Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần có kế hoạch phát triển và củng cố mạng lưới phòng chống bệnh phong cũng như các bệnh xã hội khác, để tăng cường việc quản lý người bệnh phong và điều trị ngoại trú tại xã, tại nhà.
4. Bộ Y tế và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo cụ thể cho các khu, trại điều trị bệnh phong của trung ương và của địa phương, đẩy mạnh sản xuất, phát triển các ngành nghề thủ công, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho bệnh nhân.
5. Ngành thương nghiệp cần bảo đảm cung cấp lương thực, thực phẩm, các nhu yếu phẩm khác cho các khu điều trị bệnh phong theo chế độ đã quy định. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các Bộ Y tế, Thương binh và xã hội, Nội vụ, Nội thương, Lương thực và các ngành có liên quan cần phối hợp chặt chẽ thi hành nghiêm chỉnh chỉ thị này.
|
| Tố Hữu (Đã ký)
|
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Quyết định 1550/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Quảng Ninh đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 2 Quyết định 675/QĐ-BYT công nhận tỉnh Vĩnh Phúc đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 3 Quyết định 674/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Hà Tây đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 4 Quyết định 673/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Hưng Yên đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 5 Quyết định 289/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Nam Định đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 6 Quyết định 55/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Tuyên Quang đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 7 Quyết định 52/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Thừa Thiên- Huế đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 8 Quyết định 53/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Quảng Bình đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 9 Quyết định 54/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Quảng Trị đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 10 Chỉ thị 91-TTg năm 1996 về thanh toán bệnh phong vào năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1 Quyết định 1550/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Quảng Ninh đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 2 Quyết định 675/QĐ-BYT công nhận tỉnh Vĩnh Phúc đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 3 Quyết định 674/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Hà Tây đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 4 Quyết định 673/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Hưng Yên đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 5 Quyết định 289/QĐ-BYT năm 2005 công nhận tỉnh Nam Định đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 6 Quyết định 55/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Tuyên Quang đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 7 Quyết định 52/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Thừa Thiên- Huế đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 8 Quyết định 53/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Quảng Bình đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 9 Quyết định 54/2006/QĐ-BYT công nhận tỉnh Quảng Trị đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 10 Chỉ thị 91-TTg năm 1996 về thanh toán bệnh phong vào năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành