Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Chỉ thị 40-TTg năm 1963

Chỉ thị 40-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 1963 trong bối cảnh miền Bắc đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Văn bản này tập trung vào việc chỉ đạo đầu tư, khai hoang và phát triển các đồng muối mới nhằm đáp ứng nhu cầu muối ngày càng tăng cho đời sống nhân dân, phát triển công nghiệp hóa chất và phục vụ xuất khẩu.

Các nội dung chính sách cốt lõi của Chỉ thị:

  • Xác định mục tiêu và quy hoạch khai hoang đồng muối: Nhà nước chủ trương đẩy mạnh việc khảo sát, quy hoạch các vùng đất ven biển có điều kiện tự nhiên thuận lợi để mở rộng diện tích sản xuất muối. Việc khai hoang phải được tiến hành đồng bộ, có kế hoạch cụ thể nhằm tránh lãng phí tài nguyên đất đai và nguồn lực lao động.
  • Chính sách đầu tư và hỗ trợ tài chính từ ngân sách: Chính phủ cam kết bố trí nguồn vốn đầu tư thích đáng cho công tác khai hoang đồng muối mới. Nguồn vốn này tập trung vào việc xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối như đê ngăn mặn, hệ thống cống cấp thoát nước biển, sân phơi muối và hệ thống kho bãi bảo quản sản phẩm.
  • Huy động và tổ chức lực lượng lao động diêm nghiệp: Khuyến khích việc di dân, điều động lao động từ các vùng thiếu đất sản xuất đến các vùng kinh tế mới để tham gia khai hoang làm muối. Tổ chức lao động theo mô hình hợp tác xã diêm nghiệp để tăng cường sức mạnh tập thể, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả sản xuất.
  • Cải tiến kỹ thuật và nâng cao chất lượng muối: Chỉ thị nhấn mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất muối. Chuyển dần từ phương thức sản xuất phân tán, thủ công sang quy trình bán cơ giới hóa, cải tiến công nghệ kết tinh để nâng cao độ sạch và hàm lượng NaCl của muối, phục vụ tốt cho cả tiêu dùng trực tiếp và chế biến công nghiệp.
  • Phân công trách nhiệm thực hiện giữa các cấp, các ngành:
    • Ủy ban hành chính các tỉnh ven biển: Chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc lập bản đồ quy hoạch, huy động nhân lực tại chỗ và giám sát tiến độ thi công các công trình đồng muối trên địa bàn.
    • Các Bộ, ngành Trung ương (đặc biệt là ngành Tổng cục Thủy sản, Bộ Công nghiệp nhẹ): Có nhiệm vụ cung cấp vật tư thiết bị, hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất và bảo đảm bao tiêu sản phẩm muối cho diêm dân.

Ý nghĩa thực tiễn của văn bản:

Chỉ thị 40-TTg năm 1963 là cơ sở pháp lý quan trọng giúp định hình ngành công nghiệp sản xuất muối của Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc thực hiện tốt chỉ thị này không chỉ giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động vùng ven biển mà còn bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm và tạo tiền đề nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hóa chất non trẻ thời bấy giờ.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 40-TTg

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 1963 

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC ĐẦU TƯ KHAI HOANG ĐỒNG MUỐI MỚI

Để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tiến hành khai phá những vùng đất hoang ven bể thành đồng muối, trước đây Chính phủ đã có chủ trương Nhà nước cấp phát toàn bộ kinh phí để khoanh vùng, làm đê, kè, cống và đào kênh lớn. Các hợp tác xã khai hoang chỉ phải bỏ công sức khai phá thành ruộng và tiến hành sản xuất.

Nhưng các hợp tác xã khai hoang phần nhiều là hợp tác xã nông nghiệp chuyển sang nghề muối, lúc đầu còn nhiều khó khăn, sản lượng muối lại thấp.

Vì vậy, theo đề nghị của Bộ Công nghiệp nhẹ, Hội đồng Chính phủ trong phiên họp Thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 27 tháng 04 năm 1963 đã quyết định:

1. Đối với việc làm đê kè cống và đào kênh lớn theo quy hoạch những vùng khai hoang làm đồng muối: Nhà nước vẫn cấp phát toàn bộ kinh phí như trước.

- Về công khai hoang như nhổ sú vẹt, san phằng cánh đồng thành ruộng và đào mương loại trung bình trong các đồng muối ấy: Nhà nước trợ cấp cho hợp tác xã không phải hoàn lại một nửa phí tổn (khoảng 1.200đ trên 1 éc-ta khai hoang); hợp tác xã chỉ phải chịu một nửa phí tổn và được vay dài hạn ở Ngân hàng Nhà nước số vốn cần thiết để chi trả nhân công khai hoang.

2. Chi phí vào việc đào mương nhỏ, xây ô, nề, thống, chạc và mua sắm dụng cụ sản xuất; hợp tác xã khai hoang phải chịu toàn bộ. Nếu thiếu vốn, hợp tác xã cũng được vay Ngân hàng Nhà nước như các hợp tác xã nghề muối vay để sửa sang đồng muối và chuẩn bị sản xuất mỗi khi đến vụ.

3. Để khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích sản xuất muối và đảm bảo cho hợp tác xã khai hoang có khả năng trả nợ Ngân hàng trong thời hạn 5 năm, giảm bớt khó khăn lúc đầu, số muối sản xuất ra sẽ được thu mua theo giá khuyến khích cao hơn giá muối sản xuất trên đồng muối cũ 0,01/1 kilô trong thời hạn hai năm kể từ ngày vỡ hoang xong.

4. Những hợp tác xã khai hoang đồng muối trên quy mô nhỏ độ năm bảy éc-ta hay mở rộng thêm đồng muối cũ thì không được trợ cấp một nửa công khai hoang như điều 1 trên đây mà chỉ được hưởng giá khuyến khích trong hai năm đầu như điều 3 trên đây.

5. Nhà nước sẽ đầu tư vào việc khai hoang đồng muối theo quy hoạch năm 1963 (một nửa tổng số chi phí về công khai hoang và đào mương loại trung bình trên tổng diện tích khai hoang năm 1963). Số tiền này trích trong khoản vốn Ngân sách Nhà nước đã bố trí để cho vay dài hạn và giao cho Ngân hàng Nhà nước cấp phát cho các hợp tác xã khai hoang trên quy mô lớn ở các địa phương.

6. Để đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất muối năm 1963, đưa số diện tích đang khai hoang nhanh chóng đi vào sản xuất trong năm nay càng nhiều càng tốt và đỡ tốn phí, Hội đồng Chính phủ chỉ thị cho các ngành có liên quan và Ủy ban hành chính các tỉnh có khai hoang đồng muối như sau:

- Bộ Công nghiệp nhẹ cần bàn với Bộ Nông trường và Ủy ban kiến thiết tìm biện pháp giúp đỡ phương tiện cơ giới trong quá trình thi công;

Ủy ban hành chính các địa phương có đồng muối khai hoang cần tăng cường việc lãnh đạo các hợp tác xã khai hoang bố trí kế hoạch cụ thể tiến hành khai hoang từng đợt, làm đến đâu tranh thủ đưa vào sản xuất ngay đến đó rồi tiến hành đợt khác;

- Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban hành chính các tỉnh quản lý chặt chẽ số vốn đầu tư vào khai hoang đồng muối, phát huy hiệu quả đồng vốn trên cơ sở nâng cao năng suất lao động hạ thấp chi phí khai hoang;

- Bộ Công nghiệp nhẹ có trách nhiệm cùng với Ủy ban hành chính các tỉnh đảm bảo hoàn thành đúng kế hoạch khai hoang đồng muối về diện tích, sản lượng và thời gian.

 

 

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG
 
 


Phạm Hùng

 

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 40-TTg năm 1963 về đầu tư khai hoang đồng muối mới do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 40-TTg
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 20/05/1963
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phạm Hùng
Ngày công báo: 04/06/1963
Số công báo: Số 18
Ngày hiệu lực: 04/06/1963
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Tài nguyên - Môi trường
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 40-TTg năm 1963 về đầu tư khai hoang...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký