Chỉ thị số 42/1998/CT-TTG được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm triển khai các biện pháp cấp bách phòng, chống hạn hán cho vụ đông xuân và hè thu năm 1999, chủ động ứng phó với nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng, bảo đảm an ninh lương thực và ổn định đời sống nhân dân.
Phạm vi áp dụng của Chỉ thị bao gồm toàn bộ các địa phương trên cả nước, đặc biệt là các vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, hạn hán. Đối tượng chịu sự tác động và có trách nhiệm thi hành bao gồm Ủy ban nhân dân các cấp, các Bộ, ngành trung ương, các tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi và toàn thể nhân dân tham gia sản xuất nông nghiệp.
Quản lý, phân phối và sử dụng tiết kiệm nguồn nước
- Yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành kiểm tra, đánh giá cụ thể nguồn nước hiện có tại các hồ chứa, sông ngòi, kênh rạch để xây dựng phương án phân phối nước khoa học, tiết kiệm.
- Ưu tiên hàng đầu nguồn nước ngọt cho sinh hoạt của người dân, nước uống cho gia súc, sau đó mới đến nước tưới cho cây trồng vụ đông xuân và hè thu.
- Tổ chức nạo vét khẩn cấp hệ thống kênh mương nội đồng, khơi thông dòng chảy, sửa chữa và bảo dưỡng kịp thời các trạm bơm, công trình thủy lợi để tối ưu hóa hiệu suất dẫn nước, tránh rò rỉ, thất thoát.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và lịch thời vụ
- Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn nông dân chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại những vùng không bảo đảm đủ nước tưới suốt vụ sang các loại cây trồng cạn, chịu hạn tốt và có thời gian sinh trưởng ngắn.
- Bố trí lịch gieo cấy, thời vụ hợp lý cho từng vùng, từng cánh đồng nhằm tận dụng tối đa nguồn nước tự nhiên từ các đợt mưa và nguồn nước xả từ các hồ chứa thủy điện lớn.
Huy động lực lượng và phương tiện chống hạn tại chỗ
- Huy động mọi lực lượng, phương tiện tại chỗ bao gồm cả máy bơm dã chiến, máy bơm tay để tổ chức bơm tát, trữ nước vào các ao, hồ, đầm, kênh chìm nhằm dự phòng cho các giai đoạn cao điểm của mùa khô hạn.
- Sử dụng linh hoạt nguồn ngân sách dự phòng của địa phương kết hợp với hỗ trợ từ ngân sách trung ương để mua sắm nhiên liệu, thiết bị bơm nước và hỗ trợ kinh phí cho người dân tham gia chống hạn.
Phân công trách nhiệm cho các Bộ, ngành liên quan
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, nguồn nước, hướng dẫn các địa phương thực hiện quy trình tưới tiêu tiết kiệm và các biện pháp kỹ thuật canh tác chống hạn.
- Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) chỉ đạo Tổng công ty Điện lực Việt Nam bảo đảm ưu tiên cung cấp đủ điện, liên tục cho các trạm bơm hoạt động suốt ngày đêm trong các đợt cao điểm đổ ải và tưới dưỡng.
- Tổng cục Khí tượng Thủy văn (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) tăng cường công tác dự báo, cảnh báo sớm tình hình thời tiết, dòng chảy trên các hệ thống sông để các cơ quan chức năng và địa phương chủ động phương án ứng phó.
- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kịp thời tổng hợp, đề xuất Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ kinh phí chống hạn cho các địa phương gặp khó khăn gay gắt về nguồn vốn.
Chỉ thị 42/1998/CT-TTG có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung được giao tại Chỉ thị này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 42/1998/CT-TTG | Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 1998 |
CHỈ THỊ
VỀ CÁC BIÊN PHÁP CẤP BÁCH PHÒNG, CHỐNG HẠN VỤ ĐÔNG XUÂN VÀ HÈ THU NĂM 1999
Theo báo cáo của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, mùa mưa năm nay ở các tỉnh phía bắc kết thúc sớm hơn một tháng, tổng lượn
Theo báo cáo của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, mùa mưa năm nay ở các tỉnh phía bắc kết thúc sớm hơn một tháng, tổng lượng mưa chỉ bằng 50 đến 80% so với trung bình nhiều năm; dòng chảy các sông , suối Bắc Bộ và Bắc khu bốn cũ thấp hơn trung bình nhiều năm từ 20-40%. Đặc biệt, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm 1998 là năm có lũ thấp nhất kể từ năm 1926 đến nay; mực nước và lưu lượng sông Cửu long tiếp tục xuống thấp và thấp hơn cả mùa kiệt năm 1988-1989.
Hiện nay, nhiều diện tích lúa, hoa màu, cây công nghiệp và nước sinh hoạt ở một số vùng đã và đang thiếu nghiêm trọng. Tình hình hạn hán đang diễn ra và còn có khả năng kéo dài, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.
Để chủ động phòng, chống hạn, thiên tai bảo đảm nước sinh hoạt cho nhân dân, đẩy mạnh sản xuất vụ Đông xuân và Hè thu năm 1999, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện một số việc cấp bách sau đây:
1. Đánh giá rút kinh nghiệm công tác phòng, chống hạn phục vụ sản xuất và đời sống năm 1998. Các ngành các địa phương kiểm tra, tính toán, rà soát lại nhu cầu nước của ngành, của địa phương mình; chủ động đề ra kế hoạch và biện pháp cụ thể khắc phục khả năng thiếu nước; tăng cường công tác quản lý, khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm để đảm bảo đủ nguồn nước ổn định để phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh, đặc biệt là nước sinh hoạt cho nhân dân.
2. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
- Tổ chức việc chỉ đạo điều tra, cân đối khả năng nguồn nước tại địa phương; xây dựng kế hoạch và phương án chống hạn theo phân cấp và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Trong chỉ đạo chống hạn phải tính cả cho diện tích lúa, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả.... Chuẩn bị đủ giống cho những vùng phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhất thiết không được bỏ trống diện tích.
- Kiểm tra các công trình thuỷ lợi trên địa bàn, xử lý các sự cố hư hỏng, khai thông các cửa khẩu, kênh trục, các cửa lấy nước, bể hút các trạm bơm, tập trung thi công hoàn thành các công trình thuỷ lợi dở dang để đưa ngay vào khai thác, sử dụng phục vụ sản xuất.
- Phát động phong trào quần chúng ra quân làm thủy lợi, chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện bơm tát dã chiến và thực hiện các biện pháp phòng, chống hạn ở địa phương.
- Các tỉnh miền trung, cùng với việc triển khai các biện pháp cấp bách khắc phục hậu quả bão, lụt vừa qua, cần khẩn trương sửa chữa các hồ chứa nước, các công trình thuỷ lợi bị hư hỏng để tranh thủ trữ nước khi nguồn sinh thuỷ các sông suối còn dồi dào, cùng cố nạo vét kênh mương để đưa nước phục vụ sản xuất, coi sản xuất là giải pháp chủ yếu trước mắt và lâu dài để ổn định đời sống nhân dân.
- Đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: tăng cường các biện pháp trữ nước, sử dụng hợp lý các nguồn nước hiện có trên địa bàn; vùng ven biển khẩn trương củng cố hệ thống đê ngăn mặn, các đập dâng và các cống bọng ngăn mặn giữ ngọt.
- Cùng với việc chỉ đạo phòng, chống hạn phải chỉ đạo công tác phòng cháy, chữa cháy và phòng, chống cháy rừng, phòng chống dịch bệnh phát sinh do ảnh hưởng của nắng hạn.
- Các tỉnh cần chủ động sử dụng ngân sách của địa phương để phục vụ chống hạn; đối với các tỉnh trong ngân sách địa phương có bố trí kinh phí tiêu úng năm 1998 chưa sử dụng hết được chuyển sang phục vụ chống hạn. Kiểm tra, theo dõi sát tình hình, có kế hoạch trợ giúp kịp thời đối với nhân dân ở những vùng bị mất mùa do hạn hán gây ra, không được để xẩy ra đói.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Cử ngay các đoàn xuống các tỉnh bị hạn nặng nắm tình hình, kiểm tra, đôn đốc, phối hợp với chính quyền địa phương có các biện pháp xử lý.
- Chỉ đạo các địa phương điều chỉnh cơ cấu giống và thời vụ gieo trồng phù hợp với khả năng nguồn nước cho từng vùng, từng khu vực, đảm bảo nước sinh hoạt cho dân, nhất là các tỉnh vùng cao, vùng khan hiếm nước.
- Thường xuyên theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình hạn hán, khả năng nguồn nước để có các giải pháp cụ thể chỉ đạo sản xuất vụ đông xuân và hè thu năm 1999 đạt hiệu quả cao nhất.
4. Bộ Thuỷ sản chỉ đạo và hướng dẫn các địa phương trong việc sử dụng diện tích nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với nguồn nước và môi trường; phòng, chống dịch bệnh, hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất.
5. Các ngành Điện lực, Nông nghiệp và các Bộ, ngành có liên quan phải phối hợp chặt chẽ trong việc điều tiết các hồ chứa thuỷ điện, vừa đảm bảo nhu cầu cấp điện và yêu cầu cấp nước phục vụ chống hạn.
6. Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn tăng cường công tác quan trắc, theo dõi sát tình hình thời tiết, khí hậu, dòng chảy các sông... có dự báo, cảnh báo kịp thời cho các Bộ, ngành và các địa phương để chủ động ứng phó.
Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.
|
| Nguyễn Công Tạn (Đã ký)
|
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Chỉ thị 03/2004/CT-TTg về biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2004 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Chỉ thị 41/2005/CT-TTg đẩy mạnh công tác phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân 2005 - 2006 ở các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Chỉ thị 104/2006/CT-BNN triển khai công tác phòng chống hạn hán đảm bảo sản xuất vụ đông xuân 2006-2007 ở các tỉnh Bắc bộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 4 Chỉ thị 38/2006/CT-TTg về biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân 2006 - 2007 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5 Chỉ thị 381-TTg năm 1979 về tăng cường tổ chức chỉ đạo công tác thuỷ lợi, tích cực phòng, chống hạn, bảo đảm đủ nước cho sản xuất Đông Xuân 1979-1980 ở các tỉnh miền Bắc do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6 Chỉ thị 61/2004/CT-BNN về việc đẩy mạnh công tác phòng chống hạn đảm bảo sản xuất vụ đông xuân và vụ hè thu năm 2005 do Bộ Nông nghiệp ban hành
- 7 Chỉ thị 137-TTg về phòng chống hạn, úng phục vụ sản xuất vụ mùa 1974 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8 Chỉ thị 03/1998/CT-TTg về biện pháp phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ xuân năm 1998 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1 Chỉ thị 03/2004/CT-TTg về biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2004 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Chỉ thị 41/2005/CT-TTg đẩy mạnh công tác phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân 2005 - 2006 ở các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Chỉ thị 104/2006/CT-BNN triển khai công tác phòng chống hạn hán đảm bảo sản xuất vụ đông xuân 2006-2007 ở các tỉnh Bắc bộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 4 Chỉ thị 38/2006/CT-TTg về biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân 2006 - 2007 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5 Chỉ thị 381-TTg năm 1979 về tăng cường tổ chức chỉ đạo công tác thuỷ lợi, tích cực phòng, chống hạn, bảo đảm đủ nước cho sản xuất Đông Xuân 1979-1980 ở các tỉnh miền Bắc do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6 Chỉ thị 61/2004/CT-BNN về việc đẩy mạnh công tác phòng chống hạn đảm bảo sản xuất vụ đông xuân và vụ hè thu năm 2005 do Bộ Nông nghiệp ban hành
- 7 Chỉ thị 137-TTg về phòng chống hạn, úng phục vụ sản xuất vụ mùa 1974 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8 Chỉ thị 03/1998/CT-TTg về biện pháp phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ xuân năm 1998 do Thủ tướng Chính phủ ban hành