Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Chỉ thị 424/CT-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành trong bối cảnh hệ thống điện quốc gia gặp nhiều khó khăn về nguồn cung, đặc biệt là trong các tháng mùa khô năm 2010 do tình hình thủy văn không thuận lợi, nước về các hồ thủy điện giảm sút nghiêm trọng. Văn bản này tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn kinh tế nhà nước triển khai đồng bộ các giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Bối cảnh và mục tiêu cấp bách của Chỉ thị 424/CT-TTg

Trong giai đoạn đầu năm 2010, thời tiết diễn biến phức tạp, lưu lượng nước về các hồ chứa thủy điện lớn ở miền Bắc và miền Trung đạt mức rất thấp so với trung bình nhiều năm. Để đối phó với nguy cơ thiếu điện nghiêm trọng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và đời sống xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị này nhằm đạt được các mục tiêu cốt lõi sau:

  • Đảm bảo vận hành an toàn, liên tục hệ thống điện quốc gia trong các tháng cao điểm mùa khô.
  • Ưu tiên tối đa nguồn điện cho các hoạt động sản xuất công nghiệp trọng điểm và các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của người dân.
  • Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào tiết kiệm điện trong toàn xã hội, giảm thiểu tổn thất điện năng và lãng phí trong sử dụng năng lượng.

Nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Công Thương trong việc điều phối nguồn điện

Bộ Công Thương được giao vai trò chủ trì, chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát và điều hành cung ứng điện toàn quốc với các nhiệm vụ cụ thể:

  • Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) xây dựng và thực hiện phương án vận hành hệ thống điện tối ưu, huy động hợp lý các nguồn điện, kể cả các nguồn điện có giá thành cao như nhiệt điện chạy dầu.
  • Giám sát chặt chẽ việc phân bổ điện năng của EVN cho các địa phương, đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hạn chế tối đa việc cắt điện luân phiên không báo trước gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.
  • Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình cung cấp nhiên liệu (than, khí, dầu) cho sản xuất điện.

Trách nhiệm và giải pháp kỹ thuật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)

Là đơn vị chủ lực trong cung ứng điện, EVN được yêu cầu thực hiện quyết liệt các biện pháp kỹ thuật và quản lý:

  • Huy động tối đa công suất của tất cả các nhà máy điện trong hệ thống, bao gồm cả nguồn điện của các nhà đầu tư độc lập (IPP) và nhập khẩu điện từ các nước láng giềng.
  • Vận hành tối ưu các hồ chứa thủy điện, phối hợp chặt chẽ với ngành nông nghiệp để điều tiết nước hợp lý, vừa đảm bảo phát điện trong các tháng mùa khô, vừa phục vụ đổ ải gieo cấy vụ Đông Xuân.
  • Tăng cường công tác quản lý kỹ thuật, giảm tỷ lệ tổn thất điện năng trong truyền tải và phân phối; khẩn trương hoàn thành các công trình nguồn và lưới điện truyền tải trọng điểm để đưa vào vận hành đúng tiến độ.
  • Xây dựng kế hoạch tiết giảm điện cụ thể, khoa học khi xảy ra thiếu nguồn; thông báo trước cho khách hàng sử dụng điện theo đúng quy định để chủ động phương án sản xuất.

Đảm bảo nguồn nhiên liệu đầu vào của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV)

Sự ổn định của các nhà máy nhiệt điện phụ thuộc lớn vào nguồn nhiên liệu đầu vào, do đó Thủ tướng yêu cầu:

  • Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) ưu tiên cung cấp đủ khối lượng và chủng loại than cho các nhà máy nhiệt điện theo hợp đồng đã ký kết, không để xảy ra tình trạng thiếu than dẫn đến dừng máy.
  • Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đảm bảo vận hành an toàn, ổn định các đường ống dẫn khí, ưu tiên tối đa lượng khí khai thác được cho sản xuất điện; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng nguồn dầu DO, FO để cung cấp cho các nhà máy điện khi có yêu cầu huy động cao.

Vai trò chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Các địa phương đóng vai trò quyết định trong việc thực thi các biện pháp tiết kiệm điện và quản lý nhu cầu phụ tải tại cơ sở:

  • Thành lập Ban chỉ đạo điều hành cung cấp điện tại địa phương do Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố làm Trưởng ban để trực tiếp chỉ đạo công tác tiết kiệm điện và giải quyết các khó khăn về cung ứng điện trên địa bàn.
  • Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các biện pháp tiết kiệm điện, đặc biệt là tiết kiệm tối thiểu 10% chi phí điện năng tại các cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước.
  • Giám sát chặt chẽ việc sử dụng điện trong chiếu sáng công cộng, chiếu sáng quảng cáo, trang trí ngoại thất, yêu cầu cắt giảm ít nhất 50% công suất chiếu sáng vào các giờ cao điểm tối.
  • Phối hợp với các công ty điện lực địa phương xây dựng phương án tiết giảm điện hợp lý khi hệ thống thiếu nguồn, ưu tiên cấp điện cho các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, các ngành công nghiệp mũi nhọn và các dịch vụ thiết yếu.

Công tác phối hợp liên ngành và tuyên truyền tiết kiệm điện

Để tạo sự đồng thuận và nâng cao ý thức của toàn xã hội, Chỉ thị nhấn mạnh:

  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chỉ đạo các địa phương sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; phối hợp với EVN lên lịch xả nước từ các hồ thủy điện phù hợp nhất để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nước cho cả phát điện và nông nghiệp.
  • Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình tăng cường thời lượng tuyên truyền về tình hình khó khăn của hệ thống điện, phổ biến các biện pháp, kỹ năng tiết kiệm điện đến từng hộ gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 424/CT-TTg

Hà Nội, ngày 05 tháng 04 năm 2010

 

CHỈ THỊ

TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO CUNG CẤP ĐIỆN TRONG CÁC THÁNG MÙA KHÔ NĂM 2010

Những năm qua, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo đầu tư phát triển nguồn và lưới điện, nhằm đảm bảo cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng nhu cầu điện cho sinh hoạt của nhân dân; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Trong mấy năm gần đây, mỗi năm đưa vào vận hành từ 2000 MW đến gần 3.000 MW công suất các loại nguồn điện, đưa tổng công suất nguồn điện hiện nay của Việt Nam lên trên 18.400 MW. Năm 2009 đã khắc phục được tình trạng thiếu hụt điện năng trong các tháng mùa khô của một số năm trước, về cơ bản đã đáp ứng đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, tình hình khô hạn nghiêm trọng diễn ra từ nửa cuối năm 2009 trên cả nước đã ảnh hưởng lớn đến việc tích nước các hồ thủy điện. Hầu hết các hồ thủy diện không tích được đến mức nước dâng bình thường theo yêu cầu, tổng sản lượng thủy điện thiếu hụt do không tích được đầy các hồ thủy điện lên đến gần một tỷ kWh. Theo dự báo, từ nay đến cuối mùa khô năm 2010, tình hình thiên tai, thời tiết tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khô hạn có thể kéo dài, mùa mưa có thể đến muộn hơn, điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và đủ điện cho các nhu cầu xã hội.

Nền kinh tế đang phục hồi và tăng trưởng trở lại, đòi hỏi nhu cầu điện lớn, trong 3 tháng đầu năm 2010, nhu cầu điện tăng gần 22%; dự báo năm 2010, nhu cầu điện có thể tăng đến 18% làm cho việc cung ứng điện càng khó khăn, có khả năng xẩy ra thiếu hụt điện năng nghiêm trọng vào mùa khô năm 2010, nếu không có các giải pháp cấp bách, kịp thời.

Để đảm bảo cung cấp điện cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

1. Bộ Công thương:

a) Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị có liên quan thường xuyên đánh giá tình hình cung cấp điện: cân bằng công suất, điện năng của hệ thống điện quốc gia và hệ thống điện ba miền Bắc, Trung, Nam, có tính đến khả năng truyền tải của đường dây liên kết giữa các miền; đánh giá tình hình tiêu thụ và tỷ lệ công suất dự phòng của hệ thống điện, tình hình khí tượng thủy văn từng miền…, để đề ra các giải pháp cung cấp điện tối ưu.

b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam xây dựng các kế hoạch cụ thể đảm bảo điều hòa phụ tải hợp lý trong trường hợp mất cân đối cung cầu điện.

c) Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các Tập đoàn, các Tổng công ty là chủ đầu tư các dự án điện đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo đưa các dự án vào vận hành đúng tiến độ, đảm bảo tuyệt đối an toàn và chất lượng công trình.

d) Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các ngành, các địa phương thực hiện công tác tuyên truyền về tiết kiệm điện trong mùa khô năm 2010.

2. Tập đoàn Điện lực Việt Nam:

a) Phối hợp với các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để sử dụng có hiệu quả các nguồn nước cho phát điện và cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.

b) Phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Khí tượng - Thủy văn quốc gia, cập nhật các dự báo về thời tiết và nguồn nước để chủ động đề ra các phương án vận hành hiệu quả, sử dụng tiết kiệm nguồn nước để phát điện.

c) Huy động hợp lý công suất, điện năng các nhà máy thủy điện, các nguồn điện mua của các nhà máy điện độc lập, các nguồn điện dự phòng của khách hàng và tăng cường nhập khẩu điện.

d) Khẩn trương hoàn thành thí nghiệm, chạy thử thách để đưa vận hành tin cậy các tổ máy phát điện:

- Các tổ máy nhiệt điện: Quảng Ninh 1, Hải Phòng 1.

- Các tổ máy thủy điện: tổ máy 2 thủy điện Pleikrong, tổ máy 3 thủy điện Sê San 4.

đ) Khẩn trương đưa vào vận hành trong đầu quý II các tổ máy của thủy điện Bản Vẽ.

e) Tiếp tục trưng dụng các tổ máy nhiệt điện than trong thời gian thử nghiệm hoặc nghiệm thu.

g) Tăng cường ứng trực, rút ngắn thời gian sửa chữa, bố trí lại lịch sửa chữa các tổ máy hiện có để tăng sản lượng điện phát trong mùa khô.

h) Thường xuyên báo cáo về tình hình cung cấp điện lên các cấp có thẩm quyền.

3. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam:

a) Làm việc với các đối tác để đảm bảo cung cấp đủ khí theo hợp đồng cho sản xuất điện, nhất là trong các tháng mùa khô năm 2010.

b) Phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong việc cung cấp và tiêu thụ khí cho sản xuất điện; bảo đảm các điều kiện kỹ thuật để không đưa ra sửa chữa, bảo dưỡng giàn khai thác khí và và các tổ máy phát điện của Tập đoàn trong mùa khô năm 2010.

4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

a) Tích cực triển khai các biện pháp tiết kiệm điện theo chỉ thị số 19/2005/CT-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản liên quan do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành.

b) Ban hành chỉ thị về việc tiết kiệm điện và tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện trên địa bàn.

Bộ Công thương chủ trì theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

 

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy Ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Các Tập đoàn: Điện lực VN, Dầu khí VN, CN Than - Khoáng sản VN;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Cổng TTĐT;
- Lưu: VT, KTN (4).

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG  




Hoàng Trung Hải

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 424/CT-TTg năm 2010 về tăng cường các biện pháp nhằm đảm bảo cung cấp điện trong các tháng mùa khô do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 424/CT-TTg
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 05/04/2010
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Hoàng Trung Hải
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 05/04/2010
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Tài nguyên - Môi trường
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 424/CT-TTg năm 2010 về tăng cường các...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký