Tổng quan về Chỉ thị 80-TTg/CN năm 1968
Chỉ thị 80-TTg/CN được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 1968 trong bối cảnh đất nước đang thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là sản xuất và chiến đấu. Việc quản lý, bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ trong giai đoạn này đòi hỏi sự nghiêm ngặt tối đa nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, đồng thời phục vụ hiệu quả cho công tác kiến thiết, khai thác tài nguyên và quốc phòng.
Các nội dung trọng tâm của Chỉ thị 80-TTg/CN
Văn bản tập trung điều chỉnh và siết chặt quản lý đối với ba khâu cốt lõi trong chuỗi cung ứng và sử dụng vật liệu nổ, cụ thể bao gồm:
- Công tác bảo quản vật liệu nổ: Quy định chi tiết về tiêu chuẩn kỹ thuật của hệ thống kho chứa vật liệu nổ. Kho phải được xây dựng tại các địa điểm an toàn, cách xa khu dân cư, trường học, bệnh viện và các công trình công cộng khác. Công tác bảo vệ, canh gác kho phải được duy trì liên tục 24/24 giờ bởi lực lượng chuyên trách được đào tạo nghiệp vụ. Việc phân loại, sắp xếp thuốc nổ, kíp nổ và các phụ kiện nổ trong kho phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật để loại trừ nguy cơ tương tác gây cháy nổ tự phát.
- Công tác vận chuyển vật liệu nổ: Mọi hoạt động vận chuyển vật liệu nổ trên đường bộ, đường sắt hoặc đường thủy đều phải có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp. Phương tiện vận chuyển phải bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật đặc thù, có biển báo nguy hiểm rõ ràng và trang bị đầy đủ phương tiện phòng cháy chữa cháy. Nghiêm cấm việc vận chuyển chung vật liệu nổ với hành khách hoặc các loại hàng hóa dễ cháy, dễ ăn mòn. Người điều khiển phương tiện và người áp tải phải có chứng chỉ chuyên môn về an toàn vật liệu nổ.
- Công tác sử dụng vật liệu nổ: Chỉ những đơn vị được cấp phép hoạt động nổ mìn và có đội ngũ thợ mìn, chỉ huy nổ mìn đủ năng lực hành vi, được đào tạo bài bản mới được phép thực hiện việc nổ mìn. Quy trình nổ mìn phải tuân thủ nghiêm ngặt thiết kế hoặc phương án nổ mìn đã được phê duyệt. Trước khi tiến hành nổ mìn, đơn vị phải thực hiện đầy đủ các biện pháp cảnh báo an toàn, thiết lập vùng nguy hiểm và di dời người dân ra khỏi khu vực ảnh hưởng. Sau khi nổ mìn, phải kiểm tra kỹ lưỡng bãi mìn để phát hiện và xử lý an toàn các trường hợp mìn câm, mìn sót trước khi cho người vào làm việc lại.
- Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị: Thủ trưởng các Bộ, ngành, địa phương và thủ trưởng các đơn vị trực tiếp sử dụng vật liệu nổ chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm an toàn, không để xảy ra thất thoát, mất mát vật liệu nổ vào tay kẻ xấu hoặc gây ra các tai nạn lao động nghiêm trọng. Mọi hành vi vi phạm quy trình an toàn đều phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
Ý nghĩa và giá trị thực tiễn của văn bản
Chỉ thị 80-TTg/CN năm 1968 là một trong những văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý kỹ thuật an toàn hóa chất và vật liệu nổ tại Việt Nam. Trong điều kiện chiến tranh phá hoại khốc liệt, việc thực hiện nghiêm túc chỉ thị này đã góp phần hạn chế tối đa các sự cố cháy nổ, bảo vệ lực lượng sản xuất, đồng thời bảo đảm nguồn vật tư đặc biệt này luôn được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 80-TTG/CN | Hà Nội, ngày 15 tháng 08 năm 1968 |
CHỈ THỊ
VỀ BẢO QUẢN, VẬN CHUYỂN VÀ SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ
| Kính gửi: | - Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, |
Trước đây, để ngăn ngừa những thiệt hại có thể xẩy ra trong việc sử dụng vật liệu nổ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 78-TTg ngày 24-7-1962 quy định cho các ngành, các cấp áp dụng bản “Điều lệ tạm thời về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ” của Bộ Công nghiệp nặng.
Đến nay, các cơ quan được Nhà nước giao trách nhiệm, đã ban hành bản quy phạm an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ lưu ý các ngành, các cấp kể từ nay thôi không áp dụng bản “Điều lệ tạm thời về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ” của Bộ Công nghiệp nặng nữa, mà thi hành thống nhất theo bản quy phạm an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ của Liên bộ Lao động – Công an - Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước ban hành ngày 02-5-1968.
|
| KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1 Nghị định 33-CP/NĐ năm 1973 về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2 Quyết định 83-KHKT/QĐ/LB năm 1968 ban hành bản quy phạm an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ do Chủ nhiệm Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Lao động ban hành
- 3 Nghị định 27/CP năm 1995 về việc quản lý, sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
- 4 Thông tư 11-TT/CNCL-1996 hướng dẫn Nghị định 27/CP-1995 về quản lý, sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp do Bộ Công Nghiệp ban hành
- 5 Nghị định 94-HĐBT bổ sung Nghị định 175-CP và 33-CP về quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng, tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1 Nghị định 33-CP/NĐ năm 1973 về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2 Quyết định 83-KHKT/QĐ/LB năm 1968 ban hành bản quy phạm an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ do Chủ nhiệm Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Lao động ban hành
- 3 Nghị định 27/CP năm 1995 về việc quản lý, sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
- 4 Thông tư 11-TT/CNCL-1996 hướng dẫn Nghị định 27/CP-1995 về quản lý, sản xuất, cung ứng và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp do Bộ Công Nghiệp ban hành
- 5 Nghị định 94-HĐBT bổ sung Nghị định 175-CP và 33-CP về quản lý vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng, tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6 Chỉ thị 78-TTg năm 1962 về việc bảo đảm an toàn trong khi bảo quản, vận chuyển, phân phối và dùng thuốc nổ do Thủ tướng Chính ban hành
- 7 Tiêu chuẩn ngành 22TCN 306:2003 về tiêu chuẩn kỹ thuật bảo dưỡng thường xuyên đường bộ do Bộ Giao thông vận tải ban hành