Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Tóm tắt Công ước 77 năm 1946 về kiểm tra y tế cho trẻ em và thiếu niên làm việc trong công nghiệp

Công ước số 77 năm 1946 là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe, thể chất và sự phát triển toàn diện của lao động trẻ em và thiếu niên trong lĩnh vực công nghiệp. Văn kiện thiết lập các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về kiểm tra sức khỏe trước khi tuyển dụng, giám sát y tế định kỳ và các biện pháp hỗ trợ phục hồi chức năng nghề nghiệp.

1. Phạm vi áp dụng và định nghĩa cơ sở công nghiệp (Điều 1)

Công ước áp dụng đối với tất cả trẻ em và thiếu niên làm công hoặc làm việc trong hoặc liên quan đến các cơ sở công nghiệp, bất kể là công cộng hay tư nhân. Khái niệm "cơ sở công nghiệp" được định nghĩa bao gồm:

  • Các mỏ quặng, mỏ đá và các hoạt động khai thác khoáng sản khác.
  • Các ngành công nghiệp chế tạo, cải biến, làm sạch, sửa chữa, trang trí, hoàn chỉnh, chuẩn bị bán, phá hủy hoặc chế biến vật liệu (bao gồm cả đóng tàu, sản xuất, truyền dẫn điện và động lực nói chung).
  • Các hoạt động xây dựng, sửa chữa, bảo quản, cải biến hoặc phá hủy công trình kiến trúc, đường sắt, đường bộ, cầu cảng, kênh mương, đường thủy nội địa, đường hầm, hệ thống điện thoại, điện báo, cấp nước, cấp ga và các công việc chuẩn bị xây nền móng.
  • Hoạt động vận chuyển người hoặc hàng hóa bằng đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa hoặc đường hàng không (trừ vận chuyển bằng tay), bao gồm cả xếp dỡ hàng hóa tại bến tàu, nhà ga, kho cảng hoặc sân bay.
  • Cơ quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia có trách nhiệm xác định rõ ranh giới giữa ngành công nghiệp với nông nghiệp, thương mại và các ngành nghề phi công nghiệp khác.

2. Tiêu chuẩn kiểm tra y tế và chứng nhận sức khỏe (Điều 2)

Quy định về việc tuyển dụng và cho phép trẻ em, thiếu niên làm việc trong lĩnh vực công nghiệp được kiểm soát chặt chẽ:

  • Trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi tuyệt đối không được phép làm việc trong cơ sở công nghiệp nếu chưa qua kiểm tra y tế kỹ lưỡng và được chứng nhận đủ sức khỏe để đảm nhận công việc cụ thể đó.
  • Việc kiểm tra y tế phải do một thầy thuốc có bằng cấp được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận thực hiện. Kết quả phải được xác nhận bằng giấy chứng nhận sức khỏe, giấy cho phép làm việc hoặc ghi nhận trực tiếp vào sổ lao động.
  • Tài liệu chứng nhận sức khỏe có thể được cấp kèm theo các điều kiện làm việc nhất định, hoặc cấp cho một công việc hoặc nhóm công việc cụ thể có cùng mức độ rủi ro sức khỏe đã được phân loại.
  • Pháp luật quốc gia phải quy định rõ cơ quan có thẩm quyền cấp phát tài liệu chứng nhận và các điều kiện cần xem xét khi lập các tài liệu này.

3. Giám sát y tế định kỳ và bảo vệ lao động trẻ em (Điều 3 & Điều 4)

Công ước thiết lập cơ chế giám sát liên tục sức khỏe của người lao động trẻ tuổi:

  • Sức khỏe của trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi đối với công việc đang làm phải phụ thuộc vào việc giám định y tế liên tục cho đến khi họ đủ 18 tuổi. Việc tiếp tục sử dụng lao động phải dựa trên kết quả kiểm tra y tế định kỳ với tần suất không quá một năm một lần.
  • Pháp luật quốc gia phải có quy định riêng cho các trường hợp đặc biệt yêu cầu kiểm tra lại sức khỏe ngoài kỳ hạn năm hoặc rút ngắn chu kỳ kiểm tra nhằm phát hiện sớm các rủi ro liên quan đến công việc và tình trạng sức khỏe đã phát hiện trước đó. Cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu kiểm tra lại sức khỏe trong các trường hợp ngoại lệ.
  • Đối với các ngành nghề có tỷ lệ rủi ro cao về sức khỏe, việc kiểm tra và kiểm tra lại sức khỏe định kỳ phải được thực hiện bắt buộc ít nhất cho đến khi người lao động đủ 21 tuổi. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xác định danh mục các công việc nguy hại này.

4. Chi phí kiểm tra y tế và các biện pháp hỗ trợ, tái thích ứng (Điều 5 & Điều 6)

Nhằm bảo đảm quyền lợi tối đa cho lao động trẻ tuổi, Công ước quy định:

  • Mọi chi phí liên quan đến việc kiểm tra sức khỏe theo quy định hoàn toàn miễn phí, không được gây ra bất kỳ khoản phí tổn nào cho trẻ em, thiếu niên hoặc cha mạ của họ.
  • Đối với những trường hợp kết quả kiểm tra y tế cho thấy không phù hợp với công việc, bị tàn tật hoặc có khuyết tật thể chất, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện các biện pháp hướng nghiệp, tái thích ứng thể chất và nghề nghiệp thích hợp.
  • Cần thiết lập sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả giữa các cơ quan lao động, y tế, giáo dục và xã hội để thực hiện các biện pháp hỗ trợ này.
  • Trong trường hợp sức khỏe chưa được xác định rõ ràng, pháp luật quốc gia có thể quy định cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận sức khỏe tạm thời có thời hạn ngắn để theo dõi, hoặc yêu cầu áp dụng các điều kiện làm việc đặc biệt.

5. Trách nhiệm của người sử dụng lao động và công tác thanh tra (Điều 7)

  • Người sử dụng lao động có nghĩa vụ lưu giữ và sẵn sàng xuất trình đầy đủ giấy chứng nhận sức khỏe, giấy phép làm việc hoặc sổ lao động của các lao động trẻ tuổi khi có yêu cầu của thanh tra viên lao động để chứng minh không có lý do y tế ngăn cản làm việc.
  • Pháp luật quốc gia phải quy định các biện pháp kiểm tra, giám sát bổ sung để bảo đảm việc thực thi Công ước một cách nghiêm túc và triệt để.

6. Các quy định riêng đối với một số quốc gia (Điều 8 - Điều 10)

Công ước cho phép áp dụng một số linh hoạt mang tính đặc thù quốc gia:

  • Ngoại lệ theo vùng lãnh thổ (Điều 8): Các quốc gia có vùng lãnh thổ rộng lớn, dân cư thưa thớt hoặc chưa phát triển có thể được miễn áp dụng Công ước tại các vùng đó, hoặc áp dụng với một số ngoại lệ thích hợp. Các quốc gia phải nêu rõ lý do và phạm vi áp dụng trong báo cáo hàng năm gửi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Điều chỉnh độ tuổi áp dụng (Điều 9): Những quốc gia chưa có luật về kiểm tra sức khỏe lao động trẻ em trước khi phê chuẩn có thể tạm thời hạ độ tuổi áp dụng bằng một bản tuyên bố kèm theo văn bản phê chuẩn. Cụ thể, độ tuổi giám sát thông thường có thể giảm từ dưới 18 xuống nhưng không được dưới 16 tuổi; độ tuổi đối với công việc rủi ro cao có thể giảm từ dưới 21 xuống nhưng không được dưới 19 tuổi. Các quốc gia này phải báo cáo tiến trình hướng tới áp dụng đầy đủ tiêu chuẩn chung.
  • Sửa đổi riêng cho Ấn Độ (Điều 10): Có các quy định sửa đổi đặc thù phù hợp với điều kiện thực tế của Ấn Độ.

7. Các điều khoản cuối cùng (Điều 11 - Điều 19)

  • Nguyên tắc áp dụng quy định có lợi hơn (Điều 11): Công ước không làm ảnh hưởng đến bất kỳ đạo luật, quyết định, tập quán hoặc thỏa thuận nào giữa người sử dụng lao động và người lao động nếu các văn bản đó bảo đảm những điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của Công ước này.
  • Các điều khoản mẫu (Điều 12 - Điều 19): Quy định về thủ tục phê chuẩn, hiệu lực, bãi bỏ và các thủ tục hành chính pháp lý quốc tế khác theo quy chuẩn chung của Tổ chức Lao động Quốc tế.

CÔNG ƯỚC SỐ 77

CÔNG ƯỚC

 VỀ KIỂM TRA Y TẾ CHO TRẺ EM VÀ THIẾU NIÊN LÀM VIỆC TRONG CÔNG NGHIỆP, 1946

Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,

Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Montreal ngày 19 tháng 9 năm 1946, trong kỳ họp thứ hai mươi chín, và

Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về kiểm tra y tế cho trẻ em và thiếu niên làm việc trong công nghiệp, là vấn đề thuộc điểm thứ ba trong chương trình nghị sự kỳ họp, và

Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,

Thông qua ngày 9 tháng 10 năm 1946, Công ước dưới đây gọi là Công ước về Kiểm tra y tế cho trẻ em và thiếu niên (công nghiệp), 1946

Phần I.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

1. Công ước này áp dụng cho trẻ em và thiếu niên đang làm công hay làm việc trong, hoặc có liên quan tới những cơ sở công nghiệp, công cộng hay tư nhân.

2. Trong Công ước này, thuật ngữ “cơ sở công nghiệp” bao gồm:

a) Các mỏ quặng, mỏ đá và các công nghiệp khai khoáng khác;

b) Các ngành công nghiệp trong đó các sản phẩm được chế tạo, cải biến, rửa sạch, sửa chữa, trang trí, hoàn chỉnh, chuẩn bị để đem bán, phá huỷ, hoặc trong đó các vật liệu được chế biến, kể cả việc đóng tàu, việc sản xuất, biến đổi và truyền dẫn điện và động lực nói chung;

c) Việc xây dựng, xây dựng lại, sửa chữa, bảo quản, cải biến hay phá huỷ mọi công trình kiến trúc, đường sắt, đường xe điện, cảng, bến tàu, kênh, đường thuỷ nội địa, đượng bộ, đường hầm, cầu, cầu cạn, cống chính, cống thường, giếng, các cơ sở điện báo hoặc điện thoại, các cơ sở điện, việc cấp khí đốt, cấp nước hoặc các công việc xây dựng khác, cũng như việc chuẩn bị xây nền cho các công việc hoặc công trình kiến trúc đó;

d) Việc vận chuyển người hoặc hàng hoá bằng đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thuỷ nội địa hoặc đường hàng không, kể cả việc vận chuyển hàng hoá tại các bến tàu, xe , trong kho cảng, kho chứa hoặc sân bay, trừ việc vận chuyển bằng tay.

3. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định ranh giới phạm vi giữa công nghiệp, với nông nghiệp, thương mại và các ngành nghề phi công nghiệp khác.

Điều 2

1. Trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi không được phép làm việc trong một cơ sở công nghiệp, trừ phi được kiểm tra y tế một cách kỹ lưỡng và đã được chứng nhận là có sức khoẻ để làm công việc đó.

2. Việc kiểm tra y tế để chứng nhận có đủ sức khoẻ để làm việc sẽ phải thực hiện do một thầy thuốc có bằng cấp được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận và phải được xác nhận bằng một giấy chứng nhận sức khoẻ, hoặc xác nhận vào giấy cho phép làm việc, hoặc được ghi trong sổ lao động.

3. Tài liệu chứng nhận sức khoẻ để làm việc có thể được cấp:

a)Với những điều kiện làm việc nhất định;

b) Cho một công việc nhất định hay một loạt công việc, hoặc ngành nghề có những rủi ro tương tự cho sức khoẻ đã được xếp cùng một loại bởi cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thi hành pháp luật và pháp quy về kiểm tra y tế để làm việc.

4. Pháp luật hoặc quy định phải chỉ rõ cơ quan có thẩm quyền phát hành tài liệu chứng nhận sức khoẻ để làm việc, và phải xác định những điều kiện cần được xem xét khi lập và phát hành các tài liệu đó.

Điều 3

1. Sức khoẻ của một trẻ em và thiếu niên đối với việc họ đang làm phải phụ thuộc việc giám định y tế cho đến khi họ đủ 18 tuổi.

2. Việc tiếp tục sử dụng một trẻ em hay thiếu niên dưới 18 tuổi phải phụ thuộc việc kiểm tra y tế nhiều lần trong thời gian không quá một năm một lần.

3. Pháp luật hoặc quy định quốc gia phải:

a) Có những quy định đối với những trường hợp đặc biệt đòi hỏi phải kiểm tra lại sức khoẻ ngoài việc kiểm tra hàng năm, hoặc phải kiểm tra lại theo định kỳ ngắn hơn, nhằm bảo đảm giám định một cách có hiệu quả những rủi ro có liên quan đến công việc và tình trạng sức khoẻ của trẻ em hoặc thiếu niên đã được phát hiện trong những kỳ kiểm tra trước;

b) Uỷ quyền cho cơ quan có thẩm quyền việc yêu cầu kiểm tra lại sức khoẻ trong những trường hợp ngoại lệ.

Điều 4

1. Trong các nghề có tỷ lệ rủi ro cao về sức khoẻ, việc kiểm tra và kiểm tra lại sức khoẻ để làm việc phải được thực hiện ít nhất đến khi 21 tuổi.

2. Pháp luật hoặc quy định quốc gia phải xác định, hoặc uỷ quyền cho một cơ quan thích hợp để xác định những công việc hay loạt công việc trong đó việc kiểm tra lại sức khoẻ để làm việc phải được thực hiện ít nhất đến khi 21 tuổi.

Điều 5

Việc kiểm tra sức khoẻ được quy định ở các điều trên đây, không được dẫn đến bất cứ khoản phí tổn nào đối với trẻ em hoặc thiếu niên hay cha mẹ của họ.

Điều 6

1. Cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành những biện pháp thích hợp để hướng nghiệp và tái thích ứng thể chất và nghề nghiệp cho trẻ em và thiếu niên mà việc kiểm tra sức khoẻ cho thấy họ không phù hợp với một loại công việc nào đó, hoặc bị tàn tật hay có khuyết tật về thể chất.

2. Tính chất và phạm vi của những biện pháp này phải được cơ quan có thẩm quyền xác định, Theo mục đích này, phải thiết lập sự hợp tác giữa các cơ quan lao động, y tế, giáo dục và xã hội có liên quan, phải duy trì mối quan hệ giữa các cơ quan này một cách có hiệu quả để thực hiện các biện pháp đó.

3. Đối với trẻ em và thiếu niên mà sức khoẻ làm việc chưa được xác định rõ ràng thì pháp luật hoặc quy định quốc gia có thể quy định:

a) Giấy phép làm việc, hoặc giấy chứng nhận sức khoẻ tạm thời có giá trị trong một thời gian xác định, khi hết thời hạn này, những trẻ em và thiếu niên này phải được kiểm tra lại sức khoẻ;

b) Giấy phép hoặc giấy chứng nhận yêu cầu phải có những điều kiện làm việc đặc biệt.

Điều 7

1. Người sử dụng lao động phải lưu giữ và sẵn sàng cung cấp cho các thanh tra viên lao động, giấy chứng nhận sức khoẻ để làm việc , hoặc giấy phép làm việc, hoặc sổ lao động, đề chứng minh rằng không có lý do y tế ngăn cản làm việc theo quy định của pháp luật hoặc quy định quốc gia.

2. Pháp luật hoặc quy định quốc gia phải xác định những biện pháp kiểm tra khác để bảo đảm thi hành Công ước một cách nghiêm túc.

Phần II.

NHỮNG QUY ĐỊNH RIÊNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ NƯỚC

Điều 8

1. Trong trường hợp lãnh thổ một số Nước thành viên bao gồm những vùng rộng lớn và do tính chất thưa thớt của dân cư, hay vì trình độ phát triển của các vùng đó, mà cơ quan có thẩm quyền cho là không tiện áp dụng những quy định của Công ước này, thì cơ quan có thẩm quyền có thể miễn cho các vùng đó việc áp dụng Công ước này nói chung, hoặc áp dụng với những ngoại lệ xét thấy thích hợp với một số cơ sở hoặc một số công việc.

2. Thông báo hàng năm về việc áp dụng Công ước này theo Điều 22 của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế, các Nước thành viên phải chỉ rõ những vùng nào mà nước đó dự định sẽ áp dụng những quy định của Điều lệ này và nêu lý do vì sao phải áp dụng như vậy. Sau đó không một Nước thành viên nào được áp dụng những quy định của Điều này nữa, trừ những vùng đã được xác định như trên.

Điều 9

1. Nếu một Nước thành viên, trước khi thông qua pháp luật hoặc quy định cho phép phê chuẩn Công ước này, không có pháp luật hoặc quy định nào về việc kiểm tra sức khoẻ để làm việc trong công nghiệp đối với trẻ em và thiếu niên, thì bằng một bản tuyên bố kèm theo văn bản phê chuẩn, có thể thay đổi độ tuổi xuống dưới 18 đối với trường hợp đã được quy định ở Điều 2 và 3, nhưng bất cứ trường hợp nào cũng không được dưới 16 tuổi; có thể thay đổi độ tuổi dưới 21 đối với trường hợp đã được quy định ở Điều 4, nhưng bất cứ trường hợp nào cũng không được dưới 19 tuổi.

2. Bất cứ Nước thành viên nào đã có một bản tuyên bố như trên có thể huỷ bỏ tuyên bố đó bằng một bản tuyên bố sau vào bất cứ lúc nào.

3. Tất cả các Nước thành viên mà bản tuyên bố theo Đoạn 1, Điều này đang có hiệu lực, thì trong báo cáo hàng năm, phải chỉ rõ những tiến bộ đã thực hiện để nhằm áp dụng đầy đủ những quy định của Công ước này.

Điều 10

Những sửa đổi trong việc áp dụng Công ước ở Ấn Độ.

Phần III.

NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG

Điều 11

Công ước này sẽ không làm ảnh hưởng tới bất cứ đạo luật, quyết định, tập quán hay thoả thuận nào giữa người sử dụng lao động với người lao động, nếu những đạo luật, quyết định, tập quán hay thoả thuận đó bảo đảm có những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy định của Công ước này.

Các điều từ 12 đến 19

Những quy định cuối cùng mẫu.

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công ước 77 năm 1946 về kiểm tra y tế cho trẻ em và thiếu niên làm việc trong công nghiệp

Số hiệu: 77
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 09/10/1946
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công ước 77 năm 1946 về kiểm tra y tế cho trẻ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký