TÓM TẮT CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ, 1966
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 là một trong những văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng về quyền con người, thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu nhằm bảo vệ và thúc đẩy các điều kiện sống, làm việc, giáo dục và thụ hưởng văn hóa của mọi cá nhân trên thế giới.
Thông tin chung về văn bản:
- Tên văn bản: Công ước quốc tế các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, 1966.
- Số hiệu, Loại văn bản, Cơ quan ban hành, Ngày ban hành, Ngày áp dụng, Tình trạng hiệu lực: Không rõ (chưa có thông tin cụ thể trong dữ liệu trích xuất).
- Phần I: Quyền tự quyết của các dân tộc (Điều 1)
- Quyền tự quyết chính trị và phát triển: Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị và tự do phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá của mình.
- Quyền định đoạt tài nguyên: Các dân tộc được tự do định đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và của cải vì lợi ích riêng, không làm phương hại đến nghĩa vụ hợp tác kinh tế quốc tế trên nguyên tắc cùng có lợi và luật pháp quốc tế. Trong mọi hoàn cảnh, không được tước đoạt phương tiện sinh tồn của một dân tộc.
- Trách nhiệm thúc đẩy: Các quốc gia thành viên, bao gồm cả các quốc gia quản lý Lãnh thổ Uỷ trị và Quản thác, phải thúc đẩy và tôn trọng quyền tự quyết phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc.
- Phần II: Nghĩa vụ chung của các quốc gia thành viên (Điều 2 - Điều 5)
- Biện pháp thực hiện và hợp tác quốc tế (Điều 2): Mỗi quốc gia cam kết tiến hành các biện pháp riêng rẽ và thông qua hợp tác, trợ giúp quốc tế (đặc biệt là kinh tế, kỹ thuật, lập pháp) để tối đa hóa tài nguyên sẵn có nhằm đạt được việc bảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền trong Công ước.
- Cam kết không phân biệt đối xử: Bảo đảm các quyền được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, nguồn gốc dân tộc/xã hội, tài sản, xuất thân hoặc địa vị khác. Các nước đang phát triển có thể quyết định mức độ bảo đảm quyền kinh tế cho người phi công dân dựa trên nền kinh tế quốc dân và quyền con người.
- Bình đẳng giới (Điều 3): Cam kết bảo đảm quyền bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ trong việc hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá.
- Giới hạn quyền (Điều 4): Quốc gia chỉ có thể hạn chế các quyền bằng quy định pháp luật trong chừng mực không trái với bản chất của các quyền đó và hoàn toàn vì mục đích thúc đẩy phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
- Ngăn ngừa lạm dụng và bảo toàn quyền (Điều 5): Không một quy định nào được giải thích nhằm cho phép phá hoại hoặc giới hạn quyền quá mức quy định. Không được viện cớ Công ước không công nhận hoặc công nhận ở mức thấp hơn để hạn chế các quyền cơ bản sẵn có tại mỗi quốc gia.
- Phần III: Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cụ thể (Điều 6 - Điều 15)
- Quyền làm việc (Điều 6): Thừa nhận quyền làm việc của mọi người, bao gồm cơ hội kiếm sống bằng công việc tự do lựa chọn hoặc chấp nhận. Quốc gia phải triển khai đào tạo kỹ thuật, hướng nghiệp và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững để tạo việc làm đầy đủ, hữu ích.
- Điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi (Điều 7): Bảo đảm tiền lương thỏa đáng và trả công ngang nhau cho công việc có giá trị ngang nhau (đặc biệt bảo đảm phụ nữ không bị phân biệt đối xử và được trả công ngang nam giới); bảo đảm cuộc sống tương đối đầy đủ cho người lao động và gia đình; điều kiện làm việc an toàn, lành mạnh; cơ hội thăng tiến bình đẳng dựa trên thâm niên và năng lực; chế độ nghỉ ngơi, giới hạn giờ làm việc hợp lý và nghỉ lễ hưởng lương.
- Quyền công đoàn và đình công (Điều 8): Bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn tự do để bảo vệ lợi ích kinh tế - xã hội; quyền của công đoàn thành lập liên hiệp quốc gia/quốc tế và hoạt động tự do; quyền đình công theo pháp luật quốc gia. Các quyền này có thể bị hạn chế hợp pháp đối với lực lượng vũ trang, cảnh sát hoặc bộ máy chính quyền.
- An sinh xã hội (Điều 9): Thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội, bao gồm cả bảo hiểm xã hội.
- Bảo vệ gia đình, bà mẹ và trẻ em (Điều 10): Dành sự bảo hộ tối đa cho gia đình (tế bào cơ bản của xã hội), việc kết hôn phải hoàn toàn tự nguyện. Bảo vệ đặc biệt cho bà mẹ trước và sau sinh (nghỉ việc có lương hoặc hưởng phúc lợi đầy đủ). Bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên khỏi bóc lột kinh tế, xã hội; nghiêm cấm và trừng trị việc thuê lao động trẻ em làm việc nguy hiểm, có hại cho sức khỏe, đạo đức; quy định độ tuổi tối thiểu lao động.
- Mức sống thích đáng và không bị đói (Điều 11): Quyền có mức sống thích đáng (ăn, mặc, nhà ở và cải thiện điều kiện sống). Thừa nhận quyền cơ bản không bị đói; quốc gia phải cải tiến sản xuất, bảo quản, phân phối lương thực bằng khoa học kỹ thuật, cải tổ đất đai và bảo đảm phân phối công bằng lương thực thế giới theo nhu cầu.
- Tiêu chuẩn sức khỏe (Điều 12): Quyền đạt tiêu chuẩn sức khỏe thể chất và tinh thần cao nhất có thể. Các biện pháp thực hiện gồm: giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em; cải thiện vệ sinh môi trường và công nghiệp; phòng ngừa, điều trị dịch bệnh, bệnh nghề nghiệp; bảo đảm dịch vụ và chăm sóc y tế khi đau yếu.
- Quyền giáo dục (Điều 13 & Điều 14): Giáo dục hướng tới phát triển nhân cách, nhân phẩm, tăng cường tôn trọng quyền con người, thúc đẩy hòa bình và khoan dung. Giáo dục tiểu học phải phổ cập và miễn phí; giáo dục trung học và đại học phải sẵn có, tiếp cận bình đẳng (từng bước áp dụng miễn phí); khuyến khích giáo dục cơ bản cho người chưa học xong tiểu học. Tôn trọng quyền tự do của cha mẹ trong việc chọn trường và giáo dục tôn giáo, đạo đức cho con. Quốc gia chưa thực hiện được tiểu học miễn phí phải lập kế hoạch hành động chi tiết trong vòng 2 năm để thực hiện từng bước.
- Quyền văn hóa và khoa học (Điều 15): Quyền tham gia đời sống văn hóa; hưởng lợi từ tiến bộ khoa học; bảo hộ quyền lợi tinh thần và vật chất từ sáng tạo khoa học, văn học, nghệ thuật. Quốc gia cam kết bảo tồn, phát triển, phổ biến khoa học, văn hóa và tôn trọng tự do nghiên cứu, sáng tạo, thúc đẩy hợp tác quốc tế.
- Phần IV: Cơ chế báo cáo và giám sát thực hiện (Điều 16 - Điều 25)
- Nghĩa vụ báo cáo (Điều 16 & Điều 17): Các quốc gia thành viên cam kết đệ trình báo cáo về các biện pháp đã thông qua và tiến bộ đạt được lên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc để chuyển cho Hội đồng Kinh tế và Xã hội (ECOSOC) xem xét. Báo cáo định kỳ theo chương trình của ECOSOC, có thể nêu khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ.
- Vai trò của các tổ chức chuyên môn và Ủy ban Quyền con người (Điều 18 - Điều 21): ECOSOC thỏa thuận với các tổ chức chuyên môn để báo cáo về việc thực hiện Công ước trong lĩnh vực của họ. ECOSOC có thể chuyển báo cáo cho Ủy ban Quyền con người nghiên cứu, đưa ra khuyến nghị chung. Các quốc gia và tổ chức chuyên môn có thể gửi nhận xét về các khuyến nghị này. ECOSOC gửi báo cáo kèm khuyến nghị chung lên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
- Hỗ trợ kỹ thuật và hợp tác quốc tế (Điều 22 & Điều 23): ECOSOC có thể lưu ý các cơ quan Liên Hợp Quốc về nhu cầu trợ giúp kỹ thuật phát sinh từ báo cáo. Các biện pháp quốc tế bao gồm ký kết điều ước, thông qua khuyến nghị, trợ giúp kỹ thuật, tổ chức hội nghị khu vực và chuyên đề.
- Bảo toàn các quy định khác (Điều 24 & Điều 25): Không giải thích Công ước làm phương hại đến Hiến chương Liên Hợp Quốc, điều lệ các tổ chức chuyên môn và quyền đương nhiên của các dân tộc trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của mình.
- Phần V: Các điều khoản thi hành và thủ tục pháp lý (Điều 26 - Điều 31)
- Ký kết, phê chuẩn và gia nhập (Điều 26): Công ước mở ngỏ cho tất cả các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, thành viên tổ chức chuyên môn, thành viên Quy chế Tòa án Công lý quốc tế hoặc quốc gia được Đại hội đồng mời. Việc phê chuẩn hoặc gia nhập có hiệu lực khi nộp lưu chiểu văn kiện cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
- Hiệu lực (Điều 27): Có hiệu lực 3 tháng sau khi nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 35. Đối với các quốc gia gia nhập sau đó, hiệu lực bắt đầu sau 3 tháng kể từ ngày nộp văn kiện của họ.
- Phạm vi áp dụng (Điều 28): Áp dụng đối với mọi bộ phận cấu thành của các quốc gia liên bang mà không có bất kỳ hạn chế hay ngoại lệ nào.
- Thủ tục sửa đổi (Điều 29): Quốc gia thành viên đề xuất sửa đổi gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Nếu có ít nhất 1/3 quốc gia đồng ý, Tổng thư ký triệu tập hội nghị. Sửa đổi được thông qua bằng đa số phiếu tại hội nghị, trình Đại hội đồng chuẩn y và có hiệu lực khi được 2/3 quốc gia thành viên chấp nhận. Sửa đổi chỉ ràng buộc những quốc gia đã chấp nhận nó.
- Thông báo và Ngôn ngữ (Điều 30 & Điều 31): Tổng thư ký thông báo cho các nước về việc ký, phê chuẩn, gia nhập và ngày có hiệu lực của Công ước/sửa đổi. Công ước được làm bằng các thứ tiếng: A-rập, Trung, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha có giá trị ngang nhau và được lưu trữ tại Kho lưu trữ Liên Hợp Quốc.
CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ, 1966
(Được thông qua và để ngỏ cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Có hiệu lực từ ngày 3/01/1976, căn cứ theo Điều 27.Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982)
LỜI NÓI ĐẦU
Các quốc gia thành viên Công ước này,
Xét rằng, theo những nguyên tắc nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng, không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình trên thế giới;
Thừa nhận rằng, những quyền này bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con người;
Thừa nhận rằng, theo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người thì chỉ có thể đạt được lý tưởng về con người tự do, không phải chịu nỗi sợ hãi và thiếu thốn, nếu tạo được những điều kiện để mọi người đều có thể hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cũng như các quyền dân sự, chính trị của mình;
Xét rằng, theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do của con người.
Nhận thấy rằng, mỗi cá nhân, trong khi có nghĩa vụ đối với các cá nhân khác và đối với cộng đồng mình, phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc đẩy và tuân thủ các quyền đã được thừa nhận trong Công ước;
Đã nhất trí những điều khoản sau đây:
2. Vì lợi ích của mình, các dân tộc đều có quyền tự do định đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế quốc tế, mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc.
3. Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các Lãnh thổ Uỷ trị và các Lãnh thổ Quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
2. Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác.
3. Các quốc gia đang phát triển có thể quyết định mức độ đảm bảo các quyền kinh tế mà đã được ghi nhận trong Công ước này cho những người không phải là công dân của họ, có xem xét thích đáng đến các quyền con người và nền kinh tế quốc dân của mình.
2. Không được hạn chế hoặc giảm bất kỳ quyền cơ bản nào của con người ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước này mà đã được công nhận hay tồn tại ở các nước đó dưới hình thức luật, công ước, các quy tắc hoặc tập quán, với lý do là Công ước này không công nhận các quyền đó hoặc công nhận chúng ở mức thấp hơn.
2. Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, bao gồm triển khai các chương trình đào tạo kỹ thuật và hướng nghiệp, các chính sách và biện pháp kỹ thuật nhằm đạt tới sự phát triển vững chắc về kinh tế, xã hội và văn hoá, tạo công ăn việc làm đầy đủ và hữu ích với điều kiện đảm bảo các quyền tự do cơ bản về chính trị và kinh tế của từng cá nhân.
a. Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo:
(i) Tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào; đặc biệt, phụ nữ phải được đảm bảo những điều kiện làm việc không kém hơn đàn ông, được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau;
(ii) Một cuộc sống tương đối đầy đủ cho họ và gia đình họ phù hợp với các quy định của Công ước này.
b) Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh,
c) Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc;
d) Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ.
1. Các quốc gia thành viên Công ước cam kết bảo đảm:
a) Quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn do mình lựa chọn, theo quy chế của tổ chức đó, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình. Việc thực hiện quyền này chỉ bị những hạn chế quy định trong pháp pháp luật và là cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích của an ninh quốc gia và trật tự công cộng, hoặc vì mục đích bảo vệ các quyền và tự do của những người khác;
b) Quyền của các tổ chức công đoàn được thành lập các liên hiệp công đoàn quốc gia và quyền của các liên hiệp công đoàn quốc gia được thành lập hay gia nhập các tổ chức công đoàn quốc tế;
c) Quyền của các công đoàn được hoạt động tự do, không bị bất kỳ sự hạn chế nào ngoài những hạn chế do pháp luật luật quy định và là cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia và trật tự công cộng, hoặc nhằm mục đích bảo vệ các quyền và tự do của người khác;
d) Quyền đình công với điều kiện là quyền này phải được thực hiện phù hợp với pháp luật của mỗi nước.
2. Điều khoản này không ngăn cản việc áp đặt những hạn chế hợp pháp trong việc thi hành những quyền nói trên đối với những nhân viên phục vụ trong các lực lượng vũ trang, cảnh sát hoặc bộ máy chính quyền.
3. Không quy định nào trong điều này cho phép các quốc gia thành viên của Công ước về tự do lập hội và bảo vệ quyền được lập hội năm 1948 của Tổ chức Lao động quốc tế được sử dụng các biện pháp lập pháp hoặc hành pháp mà có thể làm tổn hại đến các bảo đảm nêu trong Công ước đó.
Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận rằng:
1. Cần dành sự giúp đỡ và bảo hộ tới mức tối đa có thể được cho gia đình - tế bào cơ bản và tự nhiên của xã hội - nhất là đối với việc tạo lập gia đình và trong khi gia đình chịu trách nhiệm chăm sóc và giáo dục trẻ em đang sống lệ thuộc. Việc kết hôn phải được cặp vợ chồng tương lai chấp thuận tự do.
2. Cần dành sự bảo hộ đặc biệt cho các bà mẹ trong một khoảng thời gian thích đáng trước và sau khi sinh con. Trong khoảng thời gian đó, các bà mẹ cần được nghỉ có lương hoặc nghỉ với đầy đủ các phúc lợi an sinh xã hội.
3. Cần áp dụng những biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt đối với mọi trẻ em và thanh thiếu niên mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì các lý do xuất thân hoặc các điều kiện khác. Trẻ em và thanh thiếu niên cần được bảo vệ để không bị bóc lột về kinh tế và xã hội. Việc thuê trẻ em và thanh thiếu niên làm các công việc có hại cho tinh thần, sức khoẻ hoặc nguy hiểm tới tính mạng, hay có hại tới sự phát triển bình thường của các em phải bị trừng trị theo pháp luật. Các quốc gia cần định ra những giới hạn về độ tuổi mà việc thuê lao động trẻ em dưới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt.
2. Trên cơ sở thừa nhận quyền cơ bản của mọi người là không bị đói, các quốc gia thành viên Công ước sẽ thực hiện, tự mình và thông qua hợp tác quốc tế, các biện pháp, kể cả các chương trình cụ thể cần thiết, nhằm:
a) Cải thiện các phương pháp sản xuất, bảo quản và phân phối lương thực, thực phẩm bằng cách vận dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật; bằng cách phổ biến kiến thức về các nguyên tắc dinh dưỡng, bằng cách phát triển và cải tổ lại hệ thống đất trồng trọt sao cho có thể phát triển và sử dụng các tài nguyên thiên nhiên này một cách hiệu quả nhất;
b) Bảo đảm phân phối công bằng các nguồn lương thực, thực phẩm của thế giới dựa theo nhu cầu, có tính đến các vấn đề của những nước xuất khẩu và những nước nhập khẩu lương thực, thực phẩm.
2. Các biện pháp mà một quốc gia thành viên Công ước cần thi hành để thực hiện đầy đủ quyền này bao gồm những biện pháp cần thiết nhằm :
a) Giảm bớt tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ em, và nhằm đạt được sự phát triển lành mạnh của trẻ em;
b) Cải thiện mọi mặt về vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp;
c) Ngăn ngừa, xử lý và hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, bệnh nghề nghiệp và các loại bệnh khác;
d) Tạo các điều kiện để bảo đảm mọi dịch vụ và sự chăm sóc y tế khi đau yếu.
2. Nhằm thực hiện đầy đủ quyền này, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận rằng:
a) Giáo dục tiểu học là phổ cập và miễn phí với mọi người;
b) Bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể là từng bước áp dụng giáo dục miễn phí, phải làm cho giáo dục trung học dưới nhiều hình thức khác nhau, kể cả giáo dục trung học kỹ thuật và dạy nghề, trở nên sẵn có và đến được với mọi người.
c) Bằng mọi biện pháp thích hợp, cụ thể là từng bước áp dụng giáo dục miễn phí, phải làm cho giáo dục đại học trở thành nơi mọi người có thể tiếp cận một cách bình đẳng trên cơ sở năng lực của mỗi người;
d) Giáo dục cơ bản phải được khuyến khích hoặc tăng cường tới mức cao nhất có thể được cho những người chưa tiếp cận hoặc chưa hoàn thành toàn bộ chương trình giáo dục tiểu học.
e) Việc phát triển một hệ thống trường học ở tất cả các cấp phải được thực hiện tích cực, một chế độ học bổng thích đáng phải được thiết lập và những điều kiện vật chất cho đội ngũ giáo viên phải được cải thiện không ngừng.
3. Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ và của những người giám hộ hợp pháp (nếu có) trong việc lựa chọn trường cho con cái họ, ngoài những trường do chính quyền lập ra, mà đáp ứng được các tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu do nhà nước quy định hoặc thông qua, cũng như trong việc bảo đảm giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện riêng của họ.
4. Không một quy định nào trong điều này được giải thích nhằm làm phương hại đến quyền của các cá nhân và tổ chức được tự do thành lập và điều hành các cơ sở giáo dục, với điều kiện các cơ sở giáo dục đó luôn tuân thủ các nguyên tắc được nêu trong khoản 1 của điều này và đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn tối thiểu mà nhà nước quy định.
1. Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều có quyền:
a) Được tham gia vào đời sống văn hoá;
b) Được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó;
c) Được bảo hộ các quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình.
2. Các biện pháp mà các quốc gia thành viên Công ước sẽ tiến hành nhằm thực hiện đầy đủ quyền này phải bao gồm các biện pháp cần thiết để bảo tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hoá.
3. Các thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tự do không thể thiếu được đối với nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo.
4. Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận lợi ích của việc khuyến khích và phát triển các mối quan hệ và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học và văn hoá.
2. a) Tất cả các báo cáo sẽ được đệ trình lên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc; Tổng thư ký sẽ gửi các bản sao cho Hội đồng Kinh tế và Xã hội để xem xét theo quy định của Công ước.
b) Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cũng sẽ gửi cho các cơ quan chuyên môn các bản sao báo cáo, hoặc bất kỳ phần trích nào thích hợp trong báo cáo của các quốc gia thành viên Công ước mà đồng thời cũng là thành viên của các cơ quan chuyên môn này, trong chừng mực những báo cáo đó hoặc các phần của chúng có liên quan đến những vấn đề thuộc trách nhiệm của những cơ quan nói trên, phù hợp với văn kiện thành lập của các cơ quan đó.
2. Các báo cáo có thể nêu ra những nhân tố và khó khăn làm ảnh hưởng tới mức độ hoàn thành những nghĩa vụ mà Công ước đã quy định.
3. trường hợp một quốc gia thành viên Công ước trước đó đã cung cấp những thông tin tương tự cho Liên Hợp Quốc hoặc cho bất kỳ một cơ quan chuyên môn nào, quốc gia đó không cần gửi lại những thông tin đó mà chỉ cần viện dẫn chính xác tới thông tin đã cung cấp là đủ.
2. Công ước này đòi hỏi phải phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc .
3. Công ước này để ngỏ cho tất cả các nước nêu ở khoản 1 điều này gia nhập.
4. Việc gia nhập sẽ có hiệu lực khi văn kiện gia nhập được Tổng thư ký Liên Hợp Quốc lưu chiểu.
5. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ thông báo cho tất cả các quốc gia đã ký hoặc gia nhập Công ước này về việc nộp lưu chiểu của từng văn kiện phê chuẩn hay gia nhập.
2. Đối với quốc gia nào phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này sau khi văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập thứ 35 đã được nộp lưu chiểu, thì Công ước này sẽ có hiệu lực sau 3 tháng kể từ ngày nộp lưu chiểu văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập của quốc gia đó.
2. Những sửa đổi sẽ có hiệu lực khi được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chuẩn y và được 2/3 số quốc gia thành viên Công ước chấp nhận theo thủ tục pháp luật của mình.
3. Khi có hiệu lực, những sửa đổi sẽ chỉ ràng buộc các quốc gia chấp nhận những sửa đổi đó. Các quốc gia thành viên khác chỉ bị ràng buộc bởi những quy định của Công ước này và bất kỳ sửa đổi nào mà trước đó họ đã chấp nhận.
a. Việc ký, phê chuẩn và gia nhập Công ước theo điều 26;
b. Ngày Công ước có hiệu lực theo điều 27 và ngày các điều bổ sung có hiệu lực theo điều 29.
2. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ chuyển các bản sao có chứng thực của Công ước này tới tất cả các nước nêu trong điều 26.
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Công văn về việc hướng dẫn bổ sung cước quốc tế
- 2 Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới
- 3 Công ước La Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế
- 4 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị
- 5 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-1:2020 (ISO 34101-1:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 1: Yêu cầu đối với hệ thống quản lý sản xuất cacao bền vừng
- 6 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-2:2020 (ISO 34101-2:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 2: Yêu cầu đối với kết quả thực hiện (về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường)