Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Công ước về các hành vi phạm tội và một số hành vi khác thực hiện trên tầu bay (thường gọi là Công ước Tokyo 1963) được ký kết tại Tokyo ngày 14 tháng 09 năm 1963. Đây là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhằm thiết lập các quy tắc thống nhất để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hình sự và các hành vi khác gây ảnh hưởng đến an toàn, trật tự và kỷ luật trên tàu bay dân dụng trong quá trình hoạt động quốc tế.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Công ước áp dụng đối với các hành vi vi phạm luật hình sự và các hành vi (dù có là tội phạm hay không) có khả năng hoặc thực tế gây nguy hiểm cho an toàn của tàu bay, của người hoặc tài sản trên tàu bay, hoặc gây nguy hiểm cho trật tự và kỷ luật trên tàu bay. Phạm vi áp dụng cụ thể bao gồm:

  • Áp dụng đối với các hành vi được thực hiện bởi bất kỳ người nào trên tàu bay đăng ký tại một Quốc gia ký kết khi tàu bay đó đang bay, đang ở trên vùng biển khơi hoặc tại bất kỳ nơi nào khác ngoài lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào.
  • Một tàu bay được coi là "đang bay" kể từ thời điểm nổ máy nhằm mục đích cất cánh cho đến thời điểm kết thúc lăn bánh sau khi hạ cánh. Riêng đối với các quy định về quyền hạn của người chỉ huy tàu bay (Chương III), thời gian tàu bay đang bay được tính từ lúc tất cả các cửa ngoài được đóng lại sau khi xếp tải cho đến khi bất kỳ cửa ngoài nào được mở để dỡ tải.
  • Công ước loại trừ áp dụng đối với các tàu bay phục vụ cho mục đích quân sự, hải quan và cảnh sát.
  • Không một quy định nào trong Công ước được hiểu là cho phép hoặc yêu cầu thực hiện hành động đối với các hành vi vi phạm luật hình sự có tính chất chính trị hoặc các hành vi dựa trên sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, trừ khi an toàn của tàu bay hoặc người/tài sản trên tàu bay đòi hỏi trực tiếp.

Quyền tài phán đối với các hành vi phạm tội trên tàu bay

  • Quốc gia đăng ký tàu bay có thẩm quyền thực hiện quyền tài phán đối với các hành vi phạm tội và các hành vi khác thực hiện trên tàu bay. Mỗi Quốc gia ký kết có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán này của mình.
  • Một Quốc gia ký kết không phải là Quốc gia đăng ký tàu bay không được can thiệp vào tàu bay đang bay để thực hiện quyền tài phán hình sự của mình, trừ các trường hợp: hành vi phạm tội gây ảnh hưởng tới lãnh thổ của quốc gia đó; hành vi do công dân hoặc người thường trú của quốc gia đó thực hiện hoặc chống lại họ; hành vi chống lại an ninh của quốc gia đó; hành vi vi phạm quy tắc, quy định bay hiện hành tại quốc gia đó; hoặc việc thực hiện quyền tài phán là cần thiết để bảo đảm tuân thủ nghĩa vụ theo hiệp định quốc tế đa phương.

Thẩm quyền và trách nhiệm của người chỉ huy tàu bay

  • Khi có cơ sở hợp lý để tin rằng một người đã hoặc sắp thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi đe dọa an toàn trên tàu bay, người chỉ huy tàu bay có quyền áp dụng các biện pháp hợp lý (bao gồm cả việc bắt giữ) để bảo vệ an toàn tàu bay, người và tài sản; duy trì trật tự, kỷ luật; hoặc để giao nộp người đó cho cơ quan có thẩm quyền.
  • Người chỉ huy tàu bay có quyền yêu cầu hoặc cho phép tổ bay trợ giúp, và có thể đề nghị hoặc cho phép (nhưng không được ép buộc) hành khách trợ giúp để bắt giữ đối tượng. Tổ bay hoặc hành khách cũng có thể tự áp dụng các biện pháp ngăn chặn hợp lý nếu tin rằng hành động đó là cần thiết tức thời để bảo vệ an toàn.
  • Biện pháp bắt giữ không được tiếp tục kéo dài quá điểm hạ cánh tiếp theo, trừ khi điểm đó thuộc quốc gia không ký kết và họ từ chối nhận người, hoặc tàu bay phải hạ cánh bắt buộc mà không thể giao nộp người, hoặc người bị bắt đồng ý tiếp tục hành trình trong tình trạng bị giam giữ.
  • Người chỉ huy tàu bay phải thông báo sớm nhất có thể cho nhà chức trách của quốc gia nơi tàu bay hạ cánh về việc có người bị bắt giữ và lý do của việc bắt giữ đó.
  • Người chỉ huy tàu bay có quyền đưa xuống lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào nơi tàu bay hạ cánh bất kỳ người nào mà mình tin là đã hoặc sắp thực hiện hành vi đe dọa an toàn, đồng thời phải báo cáo rõ lý do cho nhà chức trách sở tại.
  • Người chỉ huy tàu bay có quyền giao nộp cho nhà chức trách có thẩm quyền của quốc gia nơi hạ cánh bất kỳ người nào bị tình nghi phạm tội nghiêm trọng theo luật hình sự của Quốc gia đăng ký tàu bay, đồng thời phải cung cấp các chứng cứ và thông tin hợp pháp thu thập được.
  • Người chỉ huy tàu bay, thành viên tổ bay, hành khách, chủ sở hữu hoặc người khai thác tàu bay được miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm pháp lý đối với bất kỳ việc tố tụng nào liên quan đến các biện pháp xử lý đã áp dụng phù hợp với Công ước này.

Biện pháp xử lý hành vi chiếm đoạt tàu bay bất hợp pháp

  • Khi một người trên tàu bay thực hiện hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để can thiệp, chiếm giữ hoặc kiểm soát tàu bay trái phép, các Quốc gia ký kết phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để khôi phục hoặc duy trì quyền kiểm soát tàu bay của người chỉ huy hợp pháp.
  • Quốc gia ký kết nơi tàu bay bị chiếm đoạt hạ cánh có nghĩa vụ cho phép hành khách và tổ bay tiếp tục hành trình càng nhanh càng tốt, đồng thời phải hoàn trả tàu bay và hàng hóa cho những người có quyền sở hữu hợp pháp.

Nghĩa vụ và quyền hạn của các Quốc gia ký kết

  • Các Quốc gia ký kết phải cho phép người chỉ huy của tàu bay đăng ký tại quốc gia ký kết khác đưa người xuống lãnh thổ của mình và phải tiếp nhận bất kỳ người nào được giao nộp theo quy định.
  • Khi hoàn cảnh cho phép, Quốc gia ký kết phải bắt giữ hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm sự có mặt của người bị nghi ngờ thực hiện hành vi chiếm đoạt tàu bay hoặc người bị giao nộp. Việc bắt giữ phải tuân theo pháp luật nước sở tại và chỉ được duy trì trong thời gian cần thiết hợp lý để tiến hành thủ tục hình sự hoặc dẫn độ.
  • Người bị bắt giữ phải được tạo điều kiện liên lạc ngay lập tức với cơ quan đại diện thích hợp gần nhất của quốc gia mà họ mang quốc tịch.
  • Quốc gia tiếp nhận người bị giao nộp hoặc nơi tàu bay hạ cánh sau khi bị chiếm đoạt phải ngay lập tức tiến hành điều tra sơ bộ sự việc, thông báo ngay cho Quốc gia đăng ký tàu bay, Quốc gia mà người bị giam giữ mang quốc tịch và các bên liên quan về việc giam giữ cũng như kết quả điều tra sơ bộ.
  • Nếu quốc gia nơi hạ cánh từ chối nhận người (và người đó không phải công dân hoặc thường trú nhân của họ), quốc gia đó có quyền trục xuất người này về lãnh thổ của quốc gia mà họ là công dân, thường trú nhân hoặc nơi họ bắt đầu hành trình. Việc tiếp nhận tạm thời này không được coi là cho phép nhập cảnh theo luật di trú sở tại.
  • Người bị đưa xuống tàu bay hoặc giao nộp nếu muốn tiếp tục hành trình phải được tự do đi đến bất kỳ điểm đến nào họ chọn càng sớm càng tốt, trừ khi sự hiện diện của họ bị yêu cầu bởi pháp luật nước sở tại để phục vụ tố tụng hình sự hoặc dẫn độ. Họ phải được đối xử bình đẳng như công dân của quốc gia đó về mặt an ninh và bảo vệ.

Quy định về dẫn độ và các vấn đề kỹ thuật khác

  • Nhằm mục đích dẫn độ, các hành vi phạm tội thực hiện trên tàu bay đăng ký tại một Quốc gia ký kết phải được coi như đã xảy ra không chỉ ở nơi thực tế diễn ra mà còn ở trên lãnh thổ của Quốc gia đăng ký tàu bay. Tuy nhiên, Công ước không tạo ra nghĩa vụ bắt buộc phải dẫn độ.
  • Khi thực hiện các biện pháp điều tra, bắt giữ hoặc thực hiện quyền tài phán, các Quốc gia ký kết phải lưu ý tới an toàn và lợi ích của hoạt động không vận, tránh gây chậm trễ không cần thiết cho tàu bay, hành khách, tổ bay và hàng hóa.
  • Trường hợp các Quốc gia ký kết thiết lập các tổ chức khai thác vận tải hàng không chung hoặc cơ quan khai thác quốc tế sử dụng tàu bay không đăng ký tại một quốc gia riêng biệt, các quốc gia này phải chỉ định một nước đại diện đóng vai trò là Quốc gia đăng ký tàu bay theo Công ước và thông báo cho Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO).

Hiệu lực thi hành và các điều khoản cuối cùng

  • Công ước phải được các Quốc gia ký kết phê chuẩn phù hợp với thủ tục hiến pháp của mình. Văn bản phê chuẩn được lưu chiểu tại ICAO.
  • Công ước chính thức có hiệu lực vào ngày thứ chín mươi kể từ ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn thứ mười hai. Đối với các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập sau đó, Công ước có hiệu lực vào ngày thứ chín mươi sau ngày nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn hoặc gia nhập của quốc gia đó.
  • Bất kỳ Quốc gia ký kết nào cũng có thể bãi bỏ Công ước bằng cách gửi thông báo tới ICAO. Việc bãi bỏ có hiệu lực sau sáu tháng kể từ ngày ICAO nhận được thông báo.
  • Mọi tranh chấp giữa các Quốc gia ký kết về việc giải thích hoặc áp dụng Công ước mà không giải quyết được bằng thương lượng sẽ được đưa ra trọng tài theo đề nghị của một bên. Nếu trong vòng sáu tháng các bên không thống nhất được việc tổ chức trọng tài, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án Quốc tế (ICJ). Các quốc gia có quyền tuyên bố bảo lưu không chịu ràng buộc bởi điều khoản trọng tài này khi ký, phê chuẩn hoặc gia nhập.
  • Ngoại trừ bảo lưu đối với điều khoản giải quyết tranh chấp (Điều 24), không một bảo lưu nào khác được phép thiết lập đối với Công ước này.

CÔNG ƯỚC

VỀ CÁC HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ MỘT SỐ HÀNH VI KHÁC THỰC HIỆN TRÊN TẦU BAY
Ký tại Tokyo, ngày 14 tháng 9 năm 1963

 

Các Quốc gia thành viên của Công ước này

Đã thỏa thuận như sau:

Chương 1.

PHẠM VI CỦA CÔNG ƯỚC

Điều 1.

1. Công ước này áp dụng đối với:

a) các hành vi vi phạm luật hình sự;

b) các hành vi, dù là hành vi phạm tội hay không, có thể hoặc gây nguy hiểm tới an toàn của tầu bay hoặc của người hoặc tài sản trên tầu bay, hoặc gây nguy hiểm cho trật tự và kỷ luật trên tầu bay.

2. Trừ những quy định tại Chương III. Công ước này áp dụng đối với các hành vi phạm tội được thực hiện hoặc các hành vi do một người nào đó thực hiện trên bất kỳ tầu bay nào được đăng ký tại một Quốc gia ký kết, trong khi tầu bay đó đang bay hoặc đang ở trên vùng biển khơi hoặc tại bất kỳ nơi nào khác ngoài lãnh thổ của bất kỳ Quốc gia nào.

3. Nhằm mục đích của Công ước này, một tầu bay được coi là đang bay kể từ thời điểm nổ máy nhằm mục đích cất cánh tới thời điểm kết thúc lăn bánh sau khi hạ cánh.

4. Công ước này không áp dụng đối với tầu bay phục vụ cho quân sự, hải quan và cảnh sát.

Điều 2.

Không ảnh hưởng đến các quy định tại Điều 4 và trừ khi an toàn của tầu bay hoặc của người hoặc tài sản trên tầu bay đòi hỏi, không quy định nào của Công ước này được hiểu là cho quyền hoặc yêu cầu bất kỳ hành động nào đối với các hành vi vi phạm luật hình sự có tính chất chính trị hoặc các hành vi dựa trên sự phân biệt chủng tộc hoặc tôn giáo.

Chương 2.

QUYỀN TÀI PHÁN

Điều 3.

1. Quốc gia đăng ký tầu bay có thẩm quyền thực hiện quyền tài phán đối với các hành vi phạm tội và các hành vi khác thực hiện trên tầu bay.

2. Mỗi Quốc gia ký kết phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thiết lập quyền tài phán của mình với tư cách Quốc gia đăng ký tầu bay đối với những hành vi phạm tội thực hiện trên tầu bay đã đăng ký tại Quốc gia đó.

3. Công ước này không loại trừ bất kỳ quyền tài phán hình sự nào được thực hiện phù hợp với Luật quốc gia.

Điều 4.

Một Quốc gia ký kết không phải là Quốc gia đăng ký tầu bay không được can thiệp vào tầu bay đang bay để thực hiện quyền tài phán hình sự của mình đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên tầu bay trừ các trường hợp sau đây:

a) hành vi phạm tội gây ảnh hưởng tới lãnh thổ của Quốc gia đó.

b) hành vi phạm tội do công dân hoặc người thường trú của Quốc gia đó được thực hiện hoặc chống lại họ;

c) hành vi phạm tội chống lại an ninh của Quốc gia đó.

d) hành vi phạm tội bao gồm việc vi phạm bất kỳ quy tắc hoặc quy định hiện hành nào liên quan tới chuyến bay hoặc hoạt động của tầu bay tại Quốc gia đó;

e) việc thực hiện quyền tài phán là cần thiết để bảo đảm việc tuân thủ bất kỳ nghĩa vụ nào của Quốc gia đó theo hiệp định quốc tế đa phương.

Chương 3.

QUYỀN HẠN CỦA NGƯỜI CHỈ HUY TẦU BAY

Điều 5.

1. Các quy định của Chương này sẽ không áp dụng đối với các hành vi phạm tội và các hành vi do một người đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện trên tầu bay đang bay trong vùng trời của Quốc gia đăng ký tầu bay, hoặc bay trên vùng biển khơi hoặc bất kỳ nơi nào khác ngoài lãnh thổ của bất kỳ Quốc gia nào, trừ khi điểm cất cánh cuối cùng hoặc điểm dự định hạ cánh tiếp theo nằm tại một Quốc gia không phải là Quốc gia đăng ký tầu bay, hoặc tầu bay sau đó bay trong vùng trời của một Quốc gia không phải là Quốc gia đăng ký tầu bay khi người đó vẫn đang ở trên tầu bay.

2. Mặc dù có các quy định tại khoản 3 Điều 1, một tầu bay sẽ, theo quy định của Chương này, được coi là đang bay tại bất kỳ thời điểm nào kể từ lúc tất cả các cửa ngoài của tầu bay được đóng lại sau khi xếp tải cho tới khi bất kỳ cửa ngoài nào được mở để dỡ tải. Trong trường hợp hạ cánh bắt buộc, các quy định của Chương này vẫn tiếp tục được áp dụng đối với các hành vi phạm tội và các hành vi thực hiện trên tầu bay cho tới khi nhà chức trách có thẩm quyền của một Quốc gia nhận trách nhiệm đối với tầu bay, người và tài sản trên tầu bay.

Điều 6.

1. Người chỉ huy tầu bay có thể, khi có cơ sở hợp lý để tin rằng một người nào đó đã thực hiện hoặc sắp thực hiện trên tầu bay một hành vi phạm tội hoặc hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 1, sử dụng những biện pháp hợp lý đối với người đó kể cả việc bắt giữ cần thiết để:

a) bảo vệ an toàn của tầu bay hoặc của người hoặc tài tài sản trên tầu bay; hoặc

b) duy trì trật tự và kỷ luật trên tầu bay; hoặc

c) cho phép người chỉ huy tầu bay giao người đó cho nhà chức trách có thẩm quyền hoặc đưa người đó xuống tầu bay phù hợp với các quy định của Chương này.

2. Người chỉ huy tầu bay có thể đòi hỏi hoặc cho phép sự trợ giúp của các thành viên khác trong tổ bay và có thể đề nghị hoặc cho phép, nhưng không được đòi hỏi, sự trợ giúp của hành khách để bắt giữ bất kỳ người nào mà người chỉ huy có quyền bắt giữ. Bất kỳ thành viên tổ bay hoặc hành khách nào cũng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn hợp lý mà không cần việc cho phép như trên khi có căn cứ hợp lý để tin rằng hành động như vậy là cần thiết tức thời để bảo vệ an toàn của tầu bay hoặc của người hoặc của tài sản trên tầu bay.

Điều 7.

1. Các biện pháp bắt giữ đối với một người nào đó theo quy định tại Điều 6 không được tiếp tục ngoài điểm bất kỳ tại đó tầu bay hạ cánh trừ khi:

a) Điểm đó nằm trong lãnh thổ của một Quốc gia không ký kết và nhà chức trách của Quốc gia này từ chối việc cho phép đưa người đó xuống tầu bay hoặc đã áp dụng các biện pháp phù hợp với điểm c) khoản 1, Điều 6 để có thể giao người đó cho nhà chức trách có thẩm quyền;

b) Tầu bay hạ cánh bắt buộc và người chỉ huy tầu bay không thể giao người đó cho nhà chức trách có thẩm quyền; hoặc

c) người đó đồng ý tiếp tục được vận chuyển trong tình trạng bị giam giữ.

2. Người chỉ huy tầu bay phải, càng sớm càng tốt, nếu có thể trước khi hạ cánh trong lãnh thổ của một Quốc gia khi người đó đang ở trên tầu bay trong tình trạng bị bắt giữ theo các quy định của Điều 6, thông báo với nhà chức trách của Quốc gia này về việc một người bị bắt giữ trên tầu bay và về các lý do của việc bắt giữ đó.

Điều 8.

1. Người chỉ huy tầu bay có thể, trong chừng mực cần thiết theo quy định của điểm a) hoặc b) của khoản 1, Điều 6, đưa xuống lãnh thổ của bất kỳ Quốc gia nào nơi tầu bay hạ cánh bất kỳ người nào mà người chỉ huy tầu bay có cơ sở hợp lý tin rằng người đó đã thực hiện hoặc sắp thực hiện trên tầu bay một hành vi theo quy định tại điểm b) khoản 1 của Điều này.

2. Người chỉ huy tầu bay phải báo cáo cho các nhà chức trách của Quốc gia nơi mà người chỉ huy tầu bay đưa bất kỳ người nào xuống theo Điều này về việc đưa người xuống và lý do của việc đưa xuống đó.

Điều 9.

1. Người chỉ huy tầu bay có thể giao cho nhà chức trách có thẩm quyền của bất kỳ Quốc gia nào nơi tầu bay hạ cánh, bất kỳ người nào mà người chỉ huy có cơ sở hợp lý để tin rằng người đó đã thực hiện trên tầu bay một hành vi mà theo ý kiến của người chỉ huy là phạm tội nghiêm trọng theo quy định của luật hình sự của Quốc gia đăng ký tầu bay.

2. Người chỉ huy tầu bay phải, càng sớm càng tốt, nếu có thể trước khi hạ cánh trong lãnh thổ của một Quốc gia khi người đó đang ở trên tầu bay, người mà chỉ huy tầu bay dự định giao nộp theo các quy định của khoản trên, thông báo với nhà chức trách của Quốc gia này về ý định giao người đó và lý do của việc này.

3. Người chỉ huy tầu bay phải cung cấp các chứng cứ và thông tin hợp pháp mà người chỉ huy nắm được theo Luật của Quốc gia đăng ký tầu bay cho nhà chức trách mà bất kỳ kẻ tình nghi phạm tội được giao theo các quy định của Điều này.

Điều 10.

Đối với các hành động thực hiện phù hợp với Công ước này, người chỉ huy tầu bay, bất kỳ thành viên tổ bay nào, bất kỳ hành khách nào, người chủ sở hữu hoặc người khai thác tầu bay cũng như người mà chuyến bay được thực hiện thay mặt cho người đó đều không phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ việc tố tụng nào về việc đối xử mà người bị áp dụng các hành động trên đã phải chịu.

Chương 4.

CHIẾM GIỮ BẤT HỢP PHÁP TẦU BAY

Điều 11.

1. Khi một người trên tầu bay đã có hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực bất hợp pháp để can thiệp, chiếm giữ hoặc để thực hiện các hành vi sai trái khác đối với việc kiểm soát một tầu bay đang bay hoặc khi một hành vi như vậy sắp được thực hiện, thì các Quốc gia ký kết phải áp dụng tất cả các biện pháp thích hợp để lấy lại quyền kiểm soát tầu bay đó cho người chỉ huy hợp pháp của tầu bay hoặc để duy trì quyền kiểm soát tầu bay đó của người chỉ huy.

2. Trong các trường hợp được quy định tại khoản trên, Quốc gia ký kết nơi tầu bay hạ cánh phải cho phép hành khách và tổ bay của tầu bay đó tiếp tục cuộc hành trình càng nhanh càng tốt và phải trả tầu bay và hàng hóa cho người có quyền sở hữu hợp pháp.

Chương 5.

QUYỀN HẠN VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁC QUỐC GIA

Điều 12.

Bất kỳ Quốc gia ký kết nào cũng phải cho phép người chỉ huy của một tầu bay đăng ký tại Quốc gia ký kết khác đưa xuống bất kỳ người nào theo khoản 1, Điều 8.

Điều 13.

1. Bất kỳ Quốc gia ký kết nào cũng phải nhận bất kỳ người nào mà người chỉ huy tầu bay giao theo khoản 1, Điều 9.

2. Khi thấy rằng hoàn cảnh cho phép, bất kỳ Quốc gia ký kết nào cũng phải bắt giữ hoặc áp dụng các biện pháp để bảo đảm sự có mặt của bất kỳ người nào bị nghi ngờ có hành vi nêu tại khoản 1, Điều 11 và của bất kỳ người nào mà Quốc gia này đã nhận. Việc bắt giữ và các biện pháp này phải theo quy định của pháp luật của Quốc gia này, nhưng việc bắt giữ và các biện pháp đó chỉ có thể được duy trì cho tới thời điểm cần thiết hợp lý để cho phép tiến hành các thủ tục hình sự hoặc dẫn độ.

3. Bất kỳ người nào bị bắt giữ theo khoản trên phải được giúp đỡ để liên lạc ngay lập tức với cơ quan đại diện thích hợp gần nhất của Quốc gia mà người đó là công dân.

4. Bất kỳ Quốc gia ký kết nào mà một người được trao theo khoản 1, Điều 9 hoặc tại lãnh thổ của Quốc gia đó tầu bay hạ cánh sau khi xảy ra một hành vi theo quy định tại khoản 1, Điều 11, phải ngay lập tức mở cuộc điều tra sơ bộ đối với sự việc đó.

5. Khi một Quốc gia bắt giữ một người theo Điều này, Quốc gia đó phải thông báo ngay cho Quốc gia đăng ký tầu bay và Quốc gia mà người bị giam giữ mang quốc tịch, và nếu xét thấy cần thiết, thông báo cho các Quốc gia liên quan khác biết về việc giam giữ người đó cũng như về hoàn cảnh cho phép việc giam giữ đó. Quốc gia tiến hành điều tra sơ bộ nói tại khoản 4 của Điều này phải ngay lập tức báo cáo những phát hiện của mình cho các Quốc gia nói trên và phải cho biết mình có thực hiện quyền tài phán hay không.

Điều 14.

1. Khi bất kỳ một người nào được đưa xuống tầu bay theo khoản 1, Điều 8 hoặc được giao theo khoản 1, Điều 9 hoặc đã xuống tầu bay sau khi thực hiện một hành vi nêu tại khoản 1, Điều 11 và khi người đó không thể hoặc không muốn tiếp tục hành trình của mình và Quốc gia nơi tầu bay hạ cánh từ chối chấp nhận người đó, thì Quốc gia đó có thể, nếu đối tượng đó không phải là công dân hoặc người thường trú của Quốc gia đó, trả người này về lãnh thổ của Quốc gia mà người này là công dân hoặc người thường trú, hoặc trả người này về lãnh thổ của Quốc gia mà người này bắt đầu cuộc hành trình bằng tầu bay.

2. Việc đưa xuống tầu bay hoặc việc giao hoặc giam giữ hay việc thực hiện các biện pháp nêu tại khoản 2, Điều 13 cũng như việc trả lại người liên quan không được coi là được nhận vào lãnh thổ của Quốc gia ký kết liên quan theo Luật của Quốc gia này về nhập cảnh hoặc nhận người và không điều nào trong Công ước này ảnh hưởng tới Luật của một Quốc gia ký kết liên quan tới việc trục xuất người ra khỏi lãnh thổ của mình.

Điều 15.

1. Không ảnh hưởng đến Điều 14, bất kỳ người nào đã bị đưa xuống tầu bay theo khoản 1, Điều 8 hoặc bị giao nộp theo khoản 1, Điều 9 hoặc đã xuống tầu bay sau khi thực hiện hành vi nêu tại khoản 1, Điều 11 và mong muốn tiếp tục hành trình sẽ được tự do đến bất kỳ điểm đến nào mà người đó chọn càng sớm càng tốt, trừ khi sự hiện diện của người đó là theo yêu cầu của pháp luật của Quốc gia tầu bay hạ cánh nhằm mục đích tiến hành tố tụng hình sự hoặc dẫn độ.

2. Không ảnh hưởng đến pháp luật của mình về nhập cảnh, và dẫn độ, và trục xuất khỏi lãnh thổ của mình, một Quốc gia ký kết tại đó một người bị đưa xuống tầu bay theo khoản 1, Điều 8 hoặc bị giao nộp theo khoản 1, Điều 9, hoặc đã xuống tầu bay và bị nghi đã có một hành vi nêu tại khoản 1, Điều 11, phải đối xử với người đó như đối xử với công dân của Quốc gia ký kết đó trong cùng hoàn cảnh nhằm mục đích bảo vệ và vì an ninh cho người đó.

Chương 6.

CÁC QUY ĐỊNH KHÁC

Điều 16.

1. Nhằm mục đích dẫn độ, các hành vi phạm tội thực hiện trên tầu bay đăng ký tại một Quốc gia ký kết phải được coi như các hành vi phạm tội đó thực hiện không chỉ ở nơi mà chúng xẩy ra mà còn như ở trong lãnh thổ của Quốc gia đăng ký tầu bay.

2. Không ảnh hưởng đến các quy định tại khoản trên, không điều nào trong Công ước này được coi là nghĩa vụ thừa nhận việc dẫn độ.

Điều 17.

Trong khi áp dụng bất kỳ biện pháp nào để điều tra hoặc bắt giữ hoặc thực hiện quyền tài phán liên quan tới bất kỳ hành vi phạm tội nào thực hiện trên tầu bay, các Quốc gia ký kết phải lưu ý tới sự an toàn và các lợi ích khác của không vận và phải hành động để tránh sự chậm trễ không cần thiết đối với tầu bay, hành khách, tổ bay và hàng hóa.

Điều 18.

Nếu các Quốc gia ký kết thiết lập các tổ chức khai thác vận tải hàng không chung hoặc cơ quan khai thác quốc tế khai thác tầu bay không đăng ký tại bất kỳ một Quốc gia nào trong số các Quốc gia ký kết đó, thì những Quốc gia này phải theo tình hình cụ thể chỉ định một Quốc gia trong số đó, theo quy định của Công ước này, được coi như là Quốc gia đăng ký tầu bay và phải thông báo cho Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế biết và Tổ chức này phải thông báo cho tất cả các Quốc gia thành viên Công ước này biết.

Chương 7.

CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 19.

Cho đến ngày Công ước này có hiệu lực theo các quy định tại Điều 21, Công ước này được mở để người đại diện thay mặt bất kỳ Quốc gia ký kết nào đến ngày đó là thành viên của Liên hợp quốc hoặc là thành viên của bất kỳ Cơ quan chuyên môn nào ký.

Điều 20.

1. Công ước này phải được các Quốc gia ký kết phê chuẩn phù hợp với thủ tục theo hiến pháp của Quốc gia đó.

2. Văn bản phê chuẩn phải được lưu chiểu tại Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế.

Điều 21.

1. Ngay sau khi mười hai Quốc gia ký kết nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn, thì Công ước có hiệu lực giữa các Quốc gia đó vào ngày thứ chín mươi sau ngày văn bản phê chuẩn thứ mười hai được lưu chiểu. Công ước sẽ có hiệu lực đối với mỗi Quốc gia sau này phê chuẩn Công ước này vào ngày thứ chín mươi sau khi Quốc gia đó nộp lưu chiểu văn bản phê chuẩn của mình.

2. Ngay sau khi có hiệu lực, Công ước này phải được Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế đăng ký với Tổng thư ký Liên hợp quốc.

Điều 22.

1. Sau khi có hiệu lực, Công ước này được mở ra cho bất kỳ Quốc gia thành viên nào của Liên hợp quốc hoặc của bất kỳ Cơ quan chuyên môn nào ra nhập.

2. Việc gia nhập của một Quốc gia sẽ có hiệu lực bằng cách nộp lưu chiểu văn bản gia nhập tới Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế và có hiệu lực vào ngày thứ chín mươi sau ngày nộp lưu chiểu văn bản đó.

Điều 23.

1. Bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể bãi bỏ Công ước này bằng cách gửi thông báo tới Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế.

2. Việc bãi bỏ sẽ có hiệu lực sau sáu tháng kể từ ngày Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế nhận được thông báo bãi bỏ Công ước này.

Điều 24.

1. Mọi tranh chấp giữa hai hoặc nhiều Quốc gia liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước này mà không thể giải quyết được bằng thương lượng, theo đề nghị của một trong số các Quốc gia đó, sẽ được đưa ra trọng tài. Nêu trong vòng sáu tháng kể từ ngày đề nghị trọng tài các bên không thể đồng ý về việc tổ chức trọng tài, thì bất kỳ bên nào trong các bên cũng có thể đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế bằng cách đề nghị theo Quy chế của Tòa án đó.

2. Mỗi Quốc gia, tại thời điểm ký hoặc phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này, có thể tuyên bố rằng mình không bị ràng buộc bởi khoản trên. Các Quốc gia ký kết khác sẽ không ràng buộc bởi khoản trên đối với bất kỳ Quốc gia nào đã có bảo lưu như vậy.

3. Bất kỳ Quốc gia nào đã có bảo lưu theo khoản trên có thể, tại bất kỳ thời điểm nào, rút bảo lưu đó bằng cách thông báo cho Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế biết.

Điều 25.

Trừ những quy định tại Điều 24, không bảo lưu nào khác có thể được lập đối với Công ước này.

Điều 26.

Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế phải gửi thông báo tới tất cả các Quốc gia thành viên của Liên hợp quốc hoặc của bất kỳ Cơ quan chuyên môn nào về:

a) Bất kỳ việc ký kết nào với Công ước và ngày ký;

b) việc lưu chiểu bất kỳ văn bản phê chuẩn hoặc gia nhập nào và ngày lưu chiểu của các văn bản đó;

c) ngày Công ước có hiệu lực theo khoản 1, Điều 21;

d) việc nhận bất kỳ thông báo bãi bỏ Công ước nào và ngày nhận;

e) việc nhận bất kỳ tuyên bố hoặc thông báo nào theo Điều 24 và ngày nhận.

ĐỂ LÀM CHỨNG, các đại diện toàn quyền ký tên dưới đây, được ủy quyền thích hợp, đã ký Công ước này.

Làm tại Tokyo ngày mười bốn tháng chín năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba thành ba bản có giá trị ngang nhau bằng tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha.

Công ước này sẽ được lưu chiểu tại Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế và tại đó, theo Điều 19, Công ước sẽ được mở để ký và Tổ chức này sẽ gửi các bản sao có chứng nhận của Công ước này tới tất cả các Quốc gia thành viên của Liên hợp quốc hoặc của bất kỳ Cơ quan chuyên môn nào.

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

link

Danh sách văn bản liên quan đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công ước về các hành vi phạm tội và một số hành vi khác thực hiện trên tầu bay

Số hiệu: Khongso
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 14/09/1963
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự, Giao thông - Vận tải
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công ước về các hành vi phạm tội và một số hà...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký