Tóm tắt Công văn 125/TCHQ-KTTT về thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng malt
Công văn 125/TCHQ-KTTT do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn và thống nhất việc áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng malt (đại mạch đã nảy mầm). Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp nhập khẩu và cơ quan hải quan địa phương thực hiện đúng quy định pháp luật về thuế, tránh các vướng mắc trong quá trình thông quan hàng hóa.
1. Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Công văn số 125/TCHQ-KTTT về thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với malt.
- Cơ quan ban hành: Tổng cục Hải quan.
- Đối tượng áp dụng: Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu, kinh doanh mặt hàng malt (chủ yếu phục vụ ngành công nghiệp sản xuất bia và đồ uống).
- Mục tiêu: Làm rõ mức thuế suất thuế GTGT áp dụng thống nhất cho mặt hàng malt, giải quyết các vướng mắc phát sinh do việc phân loại và áp dụng chính sách thuế đối với sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến.
2. Phân loại hàng hóa và xác định mã HS đối với Malt
Để áp dụng đúng chính sách thuế GTGT, Tổng cục Hải quan căn cứ vào Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam để định danh chính xác mặt hàng:
- Mặt hàng malt (đại mạch đã nảy mầm, đã hoặc chưa rang) được phân loại vào nhóm mã HS 11.07.
- Đây là sản phẩm đã trải qua quá trình chế biến công nghiệp (ngâm nước, cho nảy mầm và sấy khô hoặc rang) từ hạt đại mạch nguyên bản. Do đó, sản phẩm này không còn là sản phẩm trồng trọt chưa qua chế biến hoặc mới chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu thương mại.
3. Quy định về thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) áp dụng
Căn cứ vào Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định số 209/2013/NĐ-CP và Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể như sau:
- Không thuộc đối tượng miễn thuế hoặc giảm thuế sơ chế: Do malt là sản phẩm đã qua chế biến công nghiệp (thuộc nhóm HS 11.07), mặt hàng này không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT ở khâu tự sản xuất, đánh bắt bán ra hoặc khâu nhập khẩu. Đồng thời, sản phẩm cũng không thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT ở khâu kinh doanh thương mại theo quy định tại Khoản 5 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.
- Mức thuế suất áp dụng: Mặt hàng malt nhập khẩu và lưu thông trên thị trường chịu mức thuế suất thuế GTGT thống nhất là 10%.
- Lưu ý về chính sách giảm thuế GTGT: Trường hợp doanh nghiệp áp dụng chính sách giảm thuế GTGT (ví dụ giảm xuống 8% theo các Nghị định giảm thuế của Chính phủ trong từng thời kỳ), doanh nghiệp cần đối chiếu mã HS 11.07 với danh mục hàng hóa không được giảm thuế ban hành kèm theo các Nghị định đó để thực hiện khai báo chính xác.
4. Hướng dẫn tổ chức thực hiện cho cơ quan Hải quan và Doanh nghiệp
Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị trực thuộc và khuyến nghị doanh nghiệp thực hiện các nội dung sau:
- Đối với cơ quan Hải quan địa phương: Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát hồ sơ khai báo hải quan đối với các lô hàng malt nhập khẩu. Đảm bảo việc áp dụng đúng mã HS và thu đúng, thu đủ thuế GTGT theo mức 10% (hoặc mức thuế suất hiện hành theo quy định giảm thuế nếu có hiệu lực tại thời điểm nhập khẩu).
- Đối với doanh nghiệp nhập khẩu: Chủ động khai báo đúng mã HS 11.07 và áp dụng thuế suất thuế GTGT 10% ngay từ khâu nhập khẩu. Trường hợp trước đó đã khai báo sai mức thuế suất (như áp dụng mức 5% hoặc thuộc đối tượng không chịu thuế), doanh nghiệp phải thực hiện khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế thiếu vào ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Quản lý thuế để tránh bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tóm lại, Công văn 125/TCHQ-KTTT là cơ sở pháp lý quan trọng giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng thuế GTGT đối với mặt hàng malt, khẳng định đây là sản phẩm công nghiệp chịu thuế suất 10%, loại bỏ các vướng mắc phát sinh do nhầm lẫn với nông sản sơ chế thông thường.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 125/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 05 tháng 01 năm 2007 |
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Tổng cục Hải quan nhận được phản ảnh của doanh nghiệp về việc thực hiện không thống nhất giữa các Chi cục Hải quan thuộc Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh về thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng malt nhập khẩu. Để thực hiện thống nhất, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Ngày 16/11/2004 Bộ Tài chính đã có công văn số 13293/TC-CST hướng dẫn về thuế suất thuế GTGT đối với mặt hàng malt nhập khẩu.
Yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Chi cục trực thuộc thực hiện theo đúng nội dung công văn số 13293/TC-CST nêu trên; đồng thời kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các tờ khai nhập khẩu mặt hàng Malt từ ngày 16/11/2004 cho đến nay. Trường hợp doanh nghiệp đã tính và nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% (năm phần trăm) thì thực hiện truy thu theo đúng quy định hiện hành.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn số 10706 TC/CST ngày 22/09/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế nhập khẩu, thuế VAT đối với Malt
- 2 Công văn số 2803/BTC-CST về thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng malt nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Thông tư 74/2009/TT-BTC sửa đổi Thông tư 131/2008/TT-BTC về thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng malt do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn số 5636/BTC-CST về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng malt chưa rang do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Công văn số 10706 TC/CST ngày 22/09/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế nhập khẩu, thuế VAT đối với Malt
- 2 Công văn số 13293/TC-CST ngày 16/11/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế suất thuế GTGT đối với malt
- 3 Công văn số 2803/BTC-CST về thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng malt nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Thông tư 74/2009/TT-BTC sửa đổi Thông tư 131/2008/TT-BTC về thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng malt do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Công văn số 5636/BTC-CST về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng malt chưa rang do Bộ Tài chính ban hành