Tổng quan về Công văn 16058/BTC-TCT
Công văn 16058/BTC-TCT do Bộ Tài chính ban hành là một văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Văn bản tập trung làm rõ phương pháp xác định giá đất được trừ khi tính thuế GTGT, giúp các doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương áp dụng thống nhất, đúng quy định pháp luật.
Nguyên tắc xác định giá đất được trừ khi tính thuế GTGT
Theo nội dung hướng dẫn, việc xác định giá đất được trừ khi tính thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản được phân loại cụ thể theo từng nguồn gốc sử dụng đất:
- Trường hợp được Nhà nước giao đất: Giá đất được trừ bao gồm tiền sử dụng đất thực tế nộp ngân sách nhà nước (không tính phần được miễn, giảm) và chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Trường hợp thuê đất của Nhà nước: Đối với đất thuê để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để cho thuê, chuyển nhượng, giá đất được trừ là tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước (không bao gồm tiền thuê đất được miễn, giảm) và chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng thực tế phát sinh theo phương án được duyệt.
- Trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tổ chức, cá nhân khác: Giá đất được trừ là giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng, bao gồm cả giá trị cơ sở hạ tầng (nếu có). Doanh nghiệp không được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hóa đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được trừ vào giá tính thuế GTGT.
Phương pháp phân bổ và xử lý các trường hợp đặc thù
Để đảm bảo tính chính xác trong quá trình hạch toán và khai thuế, Công văn đưa ra các hướng dẫn chi tiết về phương pháp phân bổ chi phí:
- Phân bổ giá đất được trừ cho dự án hỗn hợp: Đối với các dự án đầu tư xây dựng nhà để bán, kết hợp cho thuê hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng chuyển nhượng, giá đất được trừ phải được phân bổ chi tiết cho từng m2 diện tích đất chịu thuế theo tỷ lệ diện tích tương ứng.
- Khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Các khoản chi phí liên quan đến đầu tư, xây dựng nhà, công trình kiến trúc và cơ sở hạ tầng trên đất được thực hiện kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo nguyên tắc chung, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hóa đơn hợp pháp và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản đối với doanh nghiệp
Công văn 16058/BTC-TCT là căn cứ pháp lý thiết thực giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản chủ động xác định chính xác nghĩa vụ thuế GTGT, tránh các rủi ro pháp lý về truy thu thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời, văn bản này cũng góp phần tăng cường tính minh bạch, nhất quán trong công tác quản lý và thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan quản lý nhà nước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 16058/BTC-TCT | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2010 |
Kính gửi: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Trả lời công văn số 4181/CV-TC1 ngày 17/08/2010 của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam về chính sách thuế GTGT đối với hoạt động ứng trước tiền bán chứng khoán cho khách hàng và việc phát hành hoá đơn thu phí môi giới chứng khoán cho khách hàng cá nhân. Về vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
1. Thuế GTGT đối với hoạt động ứng trước tiền bán chứng khoán cho khách hàng.
Tại tiết a, b điểm 8 Mục II Phần A Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng quy định đối tượng không chịu thuế GTGT:
“a) Dịch vụ cấp tín dụng gồm các hình thức: cho vay; chiết khấu và tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật do các tổ chức tài chính, tín dụng tại Việt Nam cung ứng.
b) Kinh doanh chứng khoán bao gồm: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, dịch vụ tổ chức thị trường của các sở hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán, các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật về chứng khoán”.
Tại Khoản 19 Điều 6 Chương I Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”.
Tại Khoản 3 Mục II Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC có quy định:
“Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không được quy định tại Mục II, Phần A; Điểm 1,2 Mục II, Phần B Thông tư này”.
Căn cứ vào quy định nêu trên, trường hợp công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán cho khách hàng và thu phí không phải là hoạt động kinh doanh chứng khoán. Do đó, công ty chứng khoán phải kê khai, nộp thuế GTGT với mức thuế suất GTGT là 10% đối với phí dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán.
2. Về việc phát hành hoá đơn thu phí môi giới chứng khoán cho khách hàng cá nhân.
Đối với khách hàng cá nhân đã đăng ký lấy hoá đơn thu phí môi giới chứng khoán và thực hiện đến lấy hoá đơn đúng hạn: hàng tháng Công ty chứng khoán sẽ thực hiện phát hành 01 hoá đơn cho từng khách hàng, kèm theo bảng kê chi tiết các giao dịch về phí môi giới chứng khoán phát sinh trong tháng.
Đối với khách hàng cá nhân không có yêu cầu lấy hoá đơn hoặc đã đăng ký lấy hoá đơn nhưng không đến lấy hoá đơn đúng hạn: Công ty chứng khoán sẽ tập hợp toàn bộ các giao dịch vào 01 bảng kê và xuất hoá 01 hoá đơn tổng để kê khai thuế, không phải lập hoá đơn giao cho từng khách hàng.
Bộ Tài chính hướng dẫn để Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |