Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 19 tháng 8 năm 2002, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 177/2002/KHXX về việc xác định sự tự nguyện của đương sự trong giao dịch dân sự. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các Tòa án nhân dân các cấp nhằm thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp dân sự, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991.

Đối tượng áp dụng của hướng dẫn này là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, các cấp Tòa án khi tiến hành xét xử các vụ án dân sự, cùng các đương sự tham gia vào quá trình tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp về tính tự nguyện trong giao dịch.

Nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá sự tự nguyện của đương sự

  • Tòa án phải xem xét một cách toàn diện, khách quan các chứng cứ, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội tại thời điểm các bên xác lập giao dịch dân sự để xác định ý chí đích thực của các bên.
  • Sự tự nguyện của đương sự phải hội đủ hai yếu tố: sự thống nhất giữa ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài, đồng thời sự bày tỏ ý chí đó không bị tác động bởi các yếu tố cưỡng ép, lừa dối hoặc nhầm lẫn.

Các tiêu chí xác định giao dịch dân sự không có sự tự nguyện

  • Giao dịch do bị đe dọa, cưỡng ép: Được xác định khi một bên hoặc người thứ ba có hành vi cố ý làm cho bên kia sợ hãi dẫn đến việc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc tài sản của mình hoặc của người thân thích.
  • Giao dịch do bị lừa dối: Là trường hợp một bên tham gia giao dịch do có sự cố ý giới thiệu thông tin sai lệch, không đúng sự thật hoặc che giấu thông tin quan trọng của bên kia hoặc của người thứ ba, khiến cho họ hiểu sai lệch về chủ thể, đối tượng hoặc nội dung của giao dịch mà đồng ý xác lập giao dịch.
  • Giao dịch được xác lập trong hoàn cảnh bị ép buộc bởi hoàn cảnh lịch sử: Đặc biệt lưu ý đến các giao dịch mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong giai đoạn trước đây khi có sự can thiệp hành chính không đúng thẩm quyền hoặc do áp lực từ các chính sách quản lý cũ khiến người sở hữu buộc phải bán, chuyển nhượng tài sản ngoài ý muốn thực sự của họ.

Phương pháp thu thập và xem xét chứng cứ của Tòa án

  • Tòa án có trách nhiệm yêu cầu các đương sự chủ động cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình về tính tự nguyện khi ký kết hợp đồng.
  • Cần tiến hành lấy lời khai của các nhân chứng, người làm chứng, người trung gian hoặc người làm chứng việc giao nhận tiền, tài sản tại thời điểm giao dịch để làm rõ không khí và hoàn cảnh giao dịch.
  • Xem xét kỹ lưỡng sự chênh lệch giữa giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm giao dịch so với giá cả thỏa thuận trong hợp đồng. Sự chênh lệch quá lớn mà không có lý do chính đáng là một trong những cơ sở để nghi vấn về tính tự nguyện của bên bán hoặc bên chuyển nhượng.

Hướng xử lý của Tòa án khi xác định giao dịch vô hiệu

  • Trong trường hợp có đủ căn cứ kết luận giao dịch dân sự được xác lập không trên cơ sở tự nguyện của một hoặc các bên, Tòa án sẽ tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.
  • Khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trong trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trị giá thành tiền để hoàn trả.
  • Bên có lỗi gây thiệt hại dẫn đến giao dịch bị vô hiệu phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình theo quy định của pháp luật dân sự.

Công văn 177/2002/KHXX có hiệu lực hướng dẫn áp dụng ngay từ thời điểm ban hành, đóng vai trò là cẩm nang nghiệp vụ giúp các Tòa án giải quyết thấu đáo, đúng pháp luật các tranh chấp hợp đồng dân sự kéo dài qua nhiều thời kỳ lịch sử.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 177/2002/KHXX

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2002

 

CÔNG VĂN

CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 177/2002/KHXX NGÀY 5 THÁNG 12 NĂM 2002 VỀ VIỆC CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam

Sau khi nghiên cứu Công văn số 44/CV-TA ngày 12/9/2002 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự thì "Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi giao dịch đó có đủ các điều kiện quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự, trong đó có điều kiện "Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện".

Việc người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện được hiểu là: các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự do bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình, tự nguyện thoả thuận với nhau về các nội dung của giao địch mà không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép từ phía bên kia hoặc của người khác; các bên tự nguyện thoả thuận các vấn đề nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Về nguyên tắc việc giao kết hợp đồng phải qua các giai đoạn khác nhau, đó là: đề nghị giao kết hợp đồng, trả lời về đề nghị giao kết hợp đồng..., sau đó mới giao kết hợp đổng.

Trước thời điểm các bên giao kết hợp đồng các bên phải thoả thuận về tất cả các nội dung của hợp đồng. Các thoả thuận đó đều phải dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên.

Như vậy, yếu tố "hoàn toàn tự nguyện" của các bên được tính đến thời điểm các bên giao kết hợp đồng dân sự quy định tại Điều 403 Bộ luật Dân sự.

Sau khi hợp đồng dân sự được giao kết, hợp đồng sẽ có hiệu lực. Hiệu lực của hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 404 Bộ luật Dân sự. Hợp đồng dân sự được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Việc thực hiện hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại Điều 409 Bộ luật Dân sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong khi giải quyết vụ án cụ thể ở địa phương.

 

Đặng Quang Phương

(Đã ký)

 

 

Văn bản được dẫn chiếu
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 177/2002/KHXX của Tòa án nhân dân tối cao về việc xác định sự tự nguyện của đương sự trong giao dịch dân sự

Số hiệu: 177/2002/KHXX
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 05/12/2002
Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Người ký: Đặng Quang Phương
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 05/12/2002
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 177/2002/KHXX của Tòa án nhân dân tố...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký