Tổng quan về Công văn 2058/TCT-CS của Tổng cục Thuế
Công văn 2058/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp bảo hiểm và người nộp thuế liên quan đến việc lập hóa đơn, chứng từ đối với các khoản chi trả tiền bồi thường bảo hiểm. Văn bản này giúp làm rõ nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và cách thức hạch toán chi phí hợp lý đối với cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm.
Nguyên tắc sử dụng hóa đơn, chứng từ khi nhận tiền bồi thường bảo hiểm
Căn cứ vào các quy định pháp luật về thuế hiện hành, đặc biệt là Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế hướng dẫn nguyên tắc áp dụng chứng từ đối với khoản tiền bồi thường bảo hiểm như sau:
- Các tổ chức, cá nhân nhận tiền bồi thường bảo hiểm, tiền thưởng, tiền hỗ trợ hoặc các khoản thu tài chính khác không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT.
- Khi nhận tiền bồi thường bảo hiểm, cơ sở kinh doanh (bên được bảo hiểm) không được lập hóa đơn GTGT mà chỉ lập chứng từ thu theo quy định của pháp luật về kế toán.
- Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện chi tiền bồi thường căn cứ vào hồ sơ bồi thường, quyết định bồi thường và lập chứng từ chi tiền (phiếu chi hoặc chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt) để làm cơ sở hạch toán chi phí.
Hướng dẫn xử lý hóa đơn trong trường hợp sửa chữa tài sản bị tổn thất
Công văn 2058/TCT-CS phân định rõ hai trường hợp cụ thể khi phát sinh hoạt động sửa chữa tài sản được bảo hiểm để xác định quyền lợi khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
- Trường hợp đơn vị sửa chữa xuất hóa đơn trực tiếp cho doanh nghiệp bảo hiểm: Nếu doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp chỉ định, nghiệm thu và thanh toán cho đơn vị sửa chữa, hóa đơn GTGT dịch vụ sửa chữa sẽ được xuất cho doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
- Trường hợp đơn vị sửa chữa xuất hóa đơn cho bên được bảo hiểm: Nếu bên được bảo hiểm tự mang tài sản đi sửa chữa và nhận hóa đơn từ đơn vị sửa chữa, sau đó doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán lại tiền bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm: Bên được bảo hiểm sử dụng hóa đơn này để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào của mình. Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện chi tiền bồi thường cho bên được bảo hiểm bằng chứng từ chi, không thực hiện khấu trừ thuế GTGT đối với hóa đơn sửa chữa này nhưng được tính khoản chi bồi thường vào chi phí hợp lý dựa trên hồ sơ bồi thường đầy đủ.
Hồ sơ và chứng từ bắt buộc để doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán chi phí
Để đảm bảo tính hợp pháp và được chấp nhận là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, doanh nghiệp bảo hiểm cần chuẩn bị đầy đủ bộ hồ sơ bồi thường bao gồm:
- Hợp đồng bảo hiểm và các điều khoản bổ sung có liên quan.
- Biên bản giám định tổn thất có xác nhận của các bên liên quan hoặc đơn vị giám định độc lập.
- Đơn yêu cầu bồi thường từ phía người được bảo hiểm.
- Chứng từ chi tiền bồi thường (phiếu chi hoặc ủy nhiệm chi qua ngân hàng).
- Chứng từ thu tiền của bên nhận bồi thường (phiếu thu hoặc chứng từ ngân hàng tương đương).
Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của hướng dẫn
Hướng dẫn tại Công văn 2058/TCT-CS mang lại sự thống nhất trong việc áp dụng luật thuế, tránh tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu khách hàng xuất hóa đơn GTGT sai quy định đối với khoản tiền bồi thường. Đồng thời, văn bản cũng bảo vệ quyền lợi khấu trừ thuế GTGT đầu vào hợp pháp của cả doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng tham gia bảo hiểm khi gặp sự cố tổn thất tài sản.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2058/TCT-CS | Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 2010 |
Kính gửi : Chi nhánh Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex Thái Nguyên
Trả lời công văn số 71/2009-CNTN ngày 13/11/2009, của Chi nhánh công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex Thái Nguyên về hoá đơn, chứng từ chi tiền bồi thường bảo hiểm, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau :
1. Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Theo hướng dẫn tại Điểm 20, Mục V, Phần C Thông tư số 130/2008/TT- BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về thuế TNDN thì trường hợp doanh nghiệp có nhận tiền bồi thường bảo hiểm sau khi trừ Khoản tiền tổn thất liên quan đến Khoản tiền bồi thường bảo hiểm nhận được thì Khoản thu nhập này được hạch toán vào thu nhập khác để xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
2. Thuế giá trị gia tăng:
- Tại Điểm 1.2.c5, Mục III Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
"Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, tài sản cố định mua vào bị tổn thất, bị hỏng do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ không được khấu trừ."
Tại Điểm 1.3, Mục III, Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về thuế GTGT hướng dẫn:
" 1.3. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào quy định như sau:
a) Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tống giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT."
Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, tài sản cố định mua vào bị tổn thất bị hỏng do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp doanh nghiệp nhận tiền bồi thường bảo hiểm đứng ra hoặc thuê doanh nghiệp khác sửa chữa, hoặc mua mới thay thế, nếu trong hợp đồng bảo hiểm quy định giá trị bồi thường có bao gồm thuế GTGT của hàng hoá bị tổn thất thì doanh nghiệp nhận tiền bồi thường không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào do khi thanh toán tiền bồi thương bảo hiểm thì Công ty bảo hiểm đã thanh toán theo giá trị bao gồm cả thuế GTGT.
Trường hợp doanh nghiệp nhận tiền bồi thường bảo hiểm đứng ra hoặc thuê doanh nghiệp khác sửa chữa, hoặc mua mới thay thế, đã được bên sửa chữa, bên bán hàng xuất trả hoá đơn GTGT, nếu trong hợp đồng bảo hiểm quy định giá trị bồi thường không bao gồm thuế GTGT của hàng hoá bị tổn thất thì doanh nghiệp nhận tiền bồi thường được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. (nếu đáp ứng đủ các Điều kiện nêu tại a và b của Điểm 1.3 Mục III, Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008). Trường hợp này doanh nghiệp khấu trừ thuế phải lưu giữ hoá đơn, chứng từ liên quan tới việc khấu trừ thuế GTGT nêu trên.
Khi nhận tiền bồi thường bảo hiểm từ cơ quan bảo hiểm thì việc yêu cầu các tài liệu, chứng từ trong hồ sơ bồi thường bảo hiểm để làm cơ sở cho cơ quan bảo hiểm chi tiền là thoả thuận giữa hai bên theo hợp đồng bảo hiểm, không thuộc thẩm quyền hướng dẫn của Tổng cục Thuế.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 130/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Nghị định 124/2008/NĐ-CP thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 130/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Nghị định 124/2008/NĐ-CP thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 41/TCT-CS năm 2018 về hoá đơn, chứng từ do Tổng cục Thuế ban hành