Giới thiệu về Công văn 2061/TCT-CS
Công văn 2061/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn các cục thuế địa phương và doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với nghiệp vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ xuất khẩu. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp làm rõ ranh giới giữa dịch vụ chịu thuế thông thường và dịch vụ xuất khẩu được hưởng thuế suất ưu đãi 0%.
Thuế giá trị gia tăng đối với nghiệp vụ tư vấn tài chính
Theo quy định của pháp luật về thuế GTGT hiện hành, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT có phạm vi áp dụng rất nghiêm ngặt. Đối với nghiệp vụ tư vấn tài chính, Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể như sau:
- Phân loại dịch vụ: Dịch vụ tư vấn tài chính (bao gồm tư vấn cấu trúc tài chính, tư vấn mua bán sáp nhập, tư vấn thu xếp vốn...) không thuộc nhóm dịch vụ tài chính, tín dụng được miễn thuế GTGT theo quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng.
- Thuế suất áp dụng: Do không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và không thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 5% hoặc 0% (nếu tiêu dùng trong nước), dịch vụ tư vấn tài chính cung cấp cho các tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phải chịu thuế suất thuế GTGT là 10%.
- Nghĩa vụ kê khai: Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính có trách nhiệm xuất hóa đơn GTGT với thuế suất 10%, thực hiện kê khai và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ hoặc phương pháp trực tiếp tùy thuộc vào phương pháp tính thuế mà doanh nghiệp đang áp dụng.
Thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ xuất khẩu
Đối với các dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài (dịch vụ xuất khẩu), để được áp dụng mức thuế suất ưu đãi 0%, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ theo quy định pháp luật:
- Điều kiện về hợp đồng: Phải có hợp đồng dịch vụ ký kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài theo đúng quy định của Luật Thương mại và các văn bản pháp luật liên quan.
- Điều kiện về thanh toán: Phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đối với dịch vụ xuất khẩu theo đúng quy định của pháp luật về thuế GTGT.
- Địa điểm tiêu dùng dịch vụ: Dịch vụ xuất khẩu phải là dịch vụ được cung cấp và tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong khu phi thuế quan. Trường hợp dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam nhưng người tiêu dùng là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì cần xác định rõ nơi tiêu dùng thực tế của dịch vụ để áp dụng thuế suất phù hợp.
- Trường hợp không được áp dụng thuế suất 0%: Công văn lưu ý các trường hợp dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài nhưng hoạt động thực hiện và tiêu dùng trực tiếp tại Việt Nam (không đáp ứng điều kiện tiêu dùng ngoài Việt Nam) thì vẫn phải chịu thuế suất thuế GTGT là 10%.
Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp
Để tránh các rủi ro pháp lý và bị truy thu thuế khi cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra, các doanh nghiệp cần lưu ý:
- Rà soát kỹ hợp đồng: Xác định rõ phạm vi công việc, đối tượng thụ hưởng và địa điểm thực hiện dịch vụ trong các hợp đồng ký kết với đối tác nước ngoài.
- Hoàn thiện hồ sơ chứng từ: Đảm bảo lưu trữ đầy đủ hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ để chứng minh đủ điều kiện áp dụng thuế suất 0% đối với dịch vụ xuất khẩu.
- Phân tách rõ ràng doanh thu: Trường hợp doanh nghiệp cung cấp gói dịch vụ hỗn hợp (vừa có phần tiêu dùng tại Việt Nam, vừa có phần tiêu dùng tại nước ngoài), cần tách biệt rõ ràng phần doanh thu tương ứng để kê khai thuế GTGT đúng quy định.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2061/TCT-CS | Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2010 |
Kính gửi: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh.
Trả lời công văn số 1974/CT-TTHT ngày 06/4/2010 của Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh về thuế GTGT đối với nghiệp vụ tư vấn tài chính của Công ty chứng khoán và dịch vụ xuất khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về thuế GTGT đối với nghiệp vụ tư vấn tài chính của Công ty chứng khoán:
Tại điểm 8.b, mục II, phần A Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về thuế GTGT hướng dẫn:
"Kinh doanh chứng khoán bao gồm: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, dịch vụ tổ chức thị trường của các sở hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán, các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật về chứng khoán" thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Tại khoản 19 Điều 6 Luật chứng khoán quy định:
"Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán".
Căn cứ Điều 42, Mục 6, Chương V Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán quy định:
"Quy định về nghiệp vụ tư vấn tài chính:
Ngoài các nghiệp vụ được cấp phép, công ty chứng khoán được phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn tài chính bao gồm:
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn quản trị công ty cổ phần;
- Tư vấn chào bán, niêm yết chứng khoán;
- Tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp;
- Tư vấn tài chính khác phù hợp với quy định pháp luật".
Tại điểm 3 mục II phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC nêu trên hướng dẫn: mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không được quy định tại mục II, phần A, Điểm 1, 2 Mục II, phần B Thông tư này.
Căn cứ hướng dẫn trên và trên cơ sở nghiên cứu ý kiến của Uỷ ban chứng khoán nhà nước tại văn bản số 1218/UBCK-PTTT ngày 29/4/2010, nghiệp vụ tư vấn tài chính không thuộc phạm vi nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật về thuế GTGT và pháp luật vê chứng khoán. Do đó, nghiệp vụ tư vấn tài chính (trong đó có nghiệp vụ tư vấn phát hành, niêm yết chứng khoán) áp dụng thuế suất thuế GTGT là 10%.
2. Về thuế GTGT đối với dịch vụ xuất khẩu:
T'ừ ngày 1/1/2009, trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện cung ứng dịch vụ trực tiếp cho tổ chức ở nước ngoài thì dịch vụ cung ứng được xác định là dịch vụ xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% với điều kiện tổ chức ở nước ngoài là tổ chức không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, không phải là người nộp thuế GTGT tại Việt Nam (cơ sở thường trú được xác định theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, quy định tại văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Hiệp định tránh đánh thuế hai lần), không có quy định dịch vụ xuất khẩu cung cấp cho tổ chức ở nước ngoài được áp dụng thuế suất 0% phải đáp ứng điều kiện được tiêu dùng ngoài Việt Nam.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Luật Chứng khoán 2006
- 2 Quyết định 27/2007/QĐ-BTC về Quy chế tổ chức và hoạt động Công ty chứng khoán do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3 Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành