Tổng quan về Công văn 2120/VPCP-KTN về cân đối và cung ứng than cho sản xuất điện
Công văn 2120/VPCP-KTN do Văn phòng Chính phủ ban hành là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc, thúc đẩy tiến độ và bảo đảm nguồn cung cấp than ổn định cho các nhà máy nhiệt điện. Trong bối cảnh nhu cầu phụ tải điện tăng cao, việc cân đối nguồn than trong nước và nhập khẩu đóng vai trò quyết định đến an ninh năng lượng quốc gia.
Chỉ đạo của Chính phủ về việc bảo đảm nguồn cung cấp than
Để bảo đảm không thiếu than cho sản xuất điện trong mọi tình huống, Chính phủ đã đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với các đơn vị sản xuất và cung ứng than chủ lực:
- Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc: Được giao nhiệm vụ thúc đẩy tối đa năng lực khai thác than trong nước, tối ưu hóa quy trình sản xuất để tăng sản lượng than thương phẩm. Đồng thời, chủ động triển khai các phương án nhập khẩu than để pha trộn với than sản xuất trong nước, bảo đảm cung cấp đủ khối lượng, đúng chủng loại theo hợp đồng đã ký kết với các nhà máy nhiệt điện.
- Xây dựng kế hoạch cung ứng linh hoạt: Các đơn vị cung ứng phải chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động thị trường than thế giới, bảo đảm nguồn cung liên tục, không để xảy ra tình trạng gián đoạn nguồn nguyên liệu cho các nhà máy điện.
Trách nhiệm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện
Chính phủ yêu cầu EVN và các đơn vị phát điện nâng cao trách nhiệm trong việc tiếp nhận và sử dụng hiệu quả nguồn than được cung cấp:
- Thực hiện nghiêm túc hợp đồng mua bán than: EVN và các chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện phải tuân thủ chặt chẽ các điều khoản trong hợp đồng đã ký với TKV và Tổng công ty Đông Bắc, đặc biệt là việc đăng ký nhu cầu nhận than sát với thực tế vận hành và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thanh toán.
- Nâng cao hiệu suất vận hành: Các nhà máy nhiệt điện cần chủ động bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ các tổ máy để bảo đảm vận hành an toàn, tin cậy, giảm thiểu sự cố và tối ưu hóa lượng than tiêu thụ trên mỗi kWh điện phát ra.
- Phối hợp chặt chẽ trong điều phối: Thiết lập cơ chế thông tin liên lạc thường xuyên giữa bên cung cấp than và bên tiêu thụ để kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình giao nhận, vận chuyển than.
Vai trò quản lý nhà nước của Bộ Công Thương
Bộ Công Thương được giao vai trò chủ trì, giám sát và điều phối toàn bộ chuỗi cung ứng than - điện:
- Giám sát thực hiện biểu đồ cấp than: Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Biểu đồ cấp than cho sản xuất điện đã được phê duyệt; kịp thời điều chỉnh, bổ sung các giải pháp xử lý khi có biến động lớn về nguồn cung hoặc nhu cầu tiêu thụ.
- Tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách: Chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn về thủ tục đầu tư, cấp phép khai thác mỏ, giá than cho sản xuất điện và các cơ chế tài chính liên quan để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ngành than phát triển bền vững.
- Định hướng nhập khẩu than: Hướng dẫn các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu than thực hiện các thủ tục nhanh chóng, bảo đảm nguồn than nhập khẩu có chất lượng phù hợp và giá cả cạnh tranh.
Các kiến nghị và giải pháp lâu dài nhằm bảo đảm an ninh năng lượng
Bên cạnh các giải pháp cấp bách trước mắt, Công văn 2120/VPCP-KTN cũng định hướng các giải pháp mang tính chiến lược dài hạn:
- Đầu tư hạ tầng logistics ngành than: Khuyến khích và thúc đẩy đầu tư nâng cấp hệ thống cảng biển, kho bãi, phương tiện vận tải chuyên dụng để nâng cao năng lực tiếp nhận, pha trộn và vận chuyển than nhập khẩu với khối lượng lớn.
- Hoàn thiện cơ chế thị trường than: Từng bước chuyển đổi hoạt động mua bán than sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, bảo đảm tính minh bạch, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp sản xuất than, doanh nghiệp phát điện và người tiêu dùng.
- Tăng cường hợp tác quốc tế: Chủ động tìm kiếm, đàm phán ký kết các thỏa thuận hợp tác cung cấp than dài hạn với các quốc gia có nguồn tài nguyên than lớn như Úc, Indonesia, Lào nhằm đa dạng hóa nguồn cung và giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một vài thị trường nhất định.
| VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2120/VPCP-KTN | Hà Nội, ngày 06 tháng 4 năm 2011 |
| Kính gửi: | - Các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư. |
Xét đề nghị của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (công văn số 6277/TKV-KH ngày 12 tháng 11 năm 2010), ý kiến của các Bộ: Tài nguyên và Môi trường (công văn số 605/BTNMT-ĐCKS ngày 02 tháng 3 năm 2011), Công Thương (công văn số 12255/BCT-CNNg ngày 03 tháng 12 năm 2010), Kế hoạch và Đầu tư (công văn số 9279/BKH-KTCN ngày 28 tháng 12 năm 2010), của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (công văn số 4773/UBND-CN ngày 07 tháng 12 năm 2010) về việc cân đối sản xuất, cung ứng than cho sản xuất điện và một số kiến nghị, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có ý kiến như sau:
1. Đồng ý về nguyên tắc giao phần tài nguyên than còn lại ở Vùng Đông Bắc cho Tập đoàn công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam. Tập đoàn công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam làm việc cụ thể với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh xác định khu vực, khoanh diện tích, tọa độ còn lại tại vùng than Đông Bắc, hoàn thiện hồ sơ theo quy định hiện hành của pháp luật về khoáng sản, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
2. Việc cấp Giấy phép khai thác than tại khu vực Quảng Ninh và đồng bằng sông Hồng cho Tập đoàn công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam, thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 3479/VPCP-KTN ngày 25 tháng 5 năm 2010 của Văn phòng Chính phủ. Về xây dựng và điều hành kế hoạch khai thác than dao động trong khoảng +-15% công suất mỏ theo Giấy phép, cần tuân thủ theo công suất xác định trong giấy phép khai thác mỏ được cấp, trường hợp cần thiết, Tập đoàn công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định.
3. Việc thăm dò đánh giá tài nguyên để đầu tư dự án thử nghiệm công nghệ khai thác than tại bể than đồng bằng sông Hồng, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1617/VPCP-KTN ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Văn phòng Chính phủ.
4. Về việc sử dụng than trong nước cho các dự án điện, Bộ Công Thương sớm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 299/TB-VPCP ngày 09 tháng 11 năm 2010 của Văn phòng Chính phủ về việc xây dựng biểu đồ phụ tải xác định cụ thể từng nhà máy nhiệt điện sử dụng than nội địa hoặc than nhập khẩu, trình Thủ tướng Chính phủ.
5. Về giá than cho điện theo cơ chế giá thị trường, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công điện số 167/CĐ-TTg ngày 11 tháng 2 năm 2011, công văn số 514/VPCP-KTTH ngày 12 tháng 5 năm 2010 và Thông báo số 14/TB-VPCP ngày 11 tháng 02 năm 2011 của Văn phòng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ xin thông báo để các cơ quan liên quan biết, thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM |
- 1 Công văn 1617/VPCP-KTN về Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng, Dự án khí hóa than và thăm dò than tại Đông Triều - Phả Lại do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2 Công văn 3479/VPCP-KTN cấp phép chế biến than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3 Công điện 167/CĐ-TTG về ưu tiên tập trung chỉ đạo ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và đầu tư, bảo đảm an sinh xã hội do Thủ tướng Chính phủ điện
- 1 Công văn 1617/VPCP-KTN về Đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng, Dự án khí hóa than và thăm dò than tại Đông Triều - Phả Lại do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2 Công văn 3479/VPCP-KTN cấp phép chế biến than của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3 Công điện 167/CĐ-TTG về ưu tiên tập trung chỉ đạo ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và đầu tư, bảo đảm an sinh xã hội do Thủ tướng Chính phủ điện
- 4 Chỉ thị 16/CT-BCT năm 2016 về đảm bảo cung ứng điện trong dịp Lễ, Tết và sự kiện chính trị, văn hóa lớn trong năm 2017 do Bộ Công thương ban hành
- 5 Công văn 5921/VPCP-CN năm 2019 thực hiện biện pháp đảm bảo cung ứng điện cho sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân do Văn phòng Chính phủ ban hành