Giới thiệu về Công văn 2151/BTP-ĐKGDBĐ năm 2018
Công văn 2151/BTP-ĐKGDBĐ do Bộ Tư pháp ban hành năm 2018 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải đáp các kiến nghị, vướng mắc liên quan đến việc nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của các tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng. Văn bản này đóng vai trò định hướng cho các cơ quan đăng ký đất đai thực hiện thống nhất quy định pháp luật, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch.
- Quy định về quyền nhận thế chấp của tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng
- Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật đất đai, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, hoặc tại các tổ chức kinh tế khác, cá nhân theo quy định của pháp luật. Điều này mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn dân sự ngoài hệ thống ngân hàng cho người dân.
- Đối với tổ chức kinh tế sử dụng đất: Quyền thế chấp của tổ chức kinh tế bị giới hạn nghiêm ngặt hơn. Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê chỉ được thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam. Họ không được phép thế chấp cho các cá nhân hoặc tổ chức kinh tế khác không phải là tổ chức tín dụng.
- Nhận thế chấp tài sản gắn liền với đất
- Trường hợp tài sản đã được chứng nhận quyền sở hữu: Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất (như nhà ở, công trình xây dựng) đã được ghi nhận trên Giấy chứng nhận có quyền thế chấp tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Việc thế chấp tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện về giao dịch dân sự và đăng ký biện pháp bảo đảm.
- Sự tách biệt giữa quyền sử dụng đất và tài sản trên đất: Trong thực tế, có trường hợp người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất. Công văn hướng dẫn việc xử lý hồ sơ đăng ký thế chấp trong các trường hợp này phải bảo đảm tính độc lập của quyền sở hữu tài sản, tránh việc xâm phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của người khác.
- Hướng dẫn nghiệp vụ đối với Văn phòng đăng ký đất đai
- Kiểm tra tư cách pháp lý của bên nhận thế chấp: Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra kỹ đối tượng nhận thế chấp trong hồ sơ. Nếu bên nhận thế chấp không phải là tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký phải đối chiếu với các quy định của Luật Đất đai để xác định người thế chấp có quyền thực hiện giao dịch với đối tượng đó hay không.
- Từ chối đăng ký đối với các trường hợp không đúng quy định: Cơ quan đăng ký có quyền và nghĩa vụ từ chối đăng ký biện pháp bảo đảm nếu phát hiện việc thế chấp quyền sử dụng đất vượt quá phạm vi quyền hạn của người sử dụng đất (ví dụ: tổ chức kinh tế thế chấp quyền sử dụng đất cho cá nhân).
- Đảm bảo tính thống nhất và không tự ý phát sinh thủ tục: Bộ Tư pháp yêu cầu các cơ quan đăng ký đất đai thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm, không được tự ý đặt ra các yêu cầu, giấy tờ ngoài quy định gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.
- Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn 2151/BTP-ĐKGDBĐ đã tháo gỡ nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch bảo đảm. Việc phân định rõ ràng đối tượng được nhận thế chấp giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, hạn chế tối đa các tranh chấp dân sự phát sinh từ việc ký kết hợp đồng thế chấp sai đối tượng, đồng thời tạo cơ chế thông thoáng nhưng an toàn cho thị trường bất động sản và hoạt động tín dụng bình thường.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2151/BTP-ĐKGDBĐ | Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2018 |
Kính gửi: Công ty TNHH LG Electronics Hải Phòng
Trả lời ý kiến kiến nghị của Công ty TNHH LG Electronics Hải Phòng trên Hệ thống tiếp nhận và trả lời kiến nghị của doanh nghiệp của Chính phủ về việc nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
1. Về việc thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân
- Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 179 Luật đất đai năm 2013 thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền “Thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật”;
Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 179 Luật đất đai năm 2013 thì hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có quyền “Thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật ”.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 Luật nhà ở năm 2014, “Chủ sở hữu nhà ở là cá nhân được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật” (trừ trường hợp cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình; cá nhân mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam theo quy định tại Điều 147 Luật nhà ở năm 2014).
2. Về việc thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của tổ chức
- Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Luật đất đai năm 2013, thì tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê được “Thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam ”, đồng thời, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm được “Thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam ” (điểm b khoản 1 Điều 175).
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 144 Luật nhà ở năm 2014, “Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam” (trừ trường hợp chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở thế chấp dự án hoặc nhà ở xây dựng trong dự án tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam; tổ chức xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình, tổ chức mua nhà ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam theo quy định tại Điều 147 Luật nhà ở năm 2014).
3. Qua rà soát các quy định pháp luật cho thấy, hiện pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở, pháp luật về công chứng hợp đồng và pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm không có quy định điều kiện riêng nào dành cho tổ chức, cá nhân khi nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất là quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được pháp luật về đất đai ghi nhận trong trường hợp đất đủ điều kiện thế chấp quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013 hoặc pháp luật về nhà ở ghi nhận trong trường hợp nhà ở đủ điều kiện giao dịch theo quy định tại Điều 118 Luật nhà ở năm 2014.
Trong văn bản kiến nghị của Công ty TNHH LG Electronics Hải Phòng không nói rõ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cấp cho chủ thể là cá nhân hay tổ chức, do đó, Quý Công ty cần căn cứ vào các quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở nêu trên để áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho phù hợp.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tư pháp về việc nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của Quý công ty xin gửi Quý công ty để tham khảo./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Công văn 2972/VPCP-KTN về thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do Văn phòng Chính phủ
- 2 Công văn 1407/TCQLĐĐ-CSPC năm 2014 trả lời Công văn 941/STNMT-VPĐK về xin ý kiến giải quyết đề nghị đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba vay vốn do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 3 Công văn 967/BTNMT-TCQLĐĐ năm 2016 về thế chấp bằng quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 4 Công văn 3675/BTP-BTTP năm 2018 trả lời kiến nghị việc nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất do Bộ Tư pháp ban hành
- 5 Công văn 1975/BTP-HTQTCT năm 2020 vướng mắc khi thực hiện việc chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền do Bộ Tư pháp ban hành
- 6 Công văn 625/BTP-HTQTCT năm 2021 về chứng thực giấy ủy quyền cho người khác tham gia phân chia, định đoạt quyền sử dụng đất do Bộ Tư pháp ban hành
- 1 Công văn 2972/VPCP-KTN về thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do Văn phòng Chính phủ
- 2 Luật đất đai 2013
- 3 Luật Nhà ở 2014
- 4 Công văn 1407/TCQLĐĐ-CSPC năm 2014 trả lời Công văn 941/STNMT-VPĐK về xin ý kiến giải quyết đề nghị đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba vay vốn do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 5 Công văn 967/BTNMT-TCQLĐĐ năm 2016 về thế chấp bằng quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 6 Công văn 3675/BTP-BTTP năm 2018 trả lời kiến nghị việc nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất do Bộ Tư pháp ban hành
- 7 Công văn 1975/BTP-HTQTCT năm 2020 vướng mắc khi thực hiện việc chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền do Bộ Tư pháp ban hành
- 8 Công văn 625/BTP-HTQTCT năm 2021 về chứng thực giấy ủy quyền cho người khác tham gia phân chia, định đoạt quyền sử dụng đất do Bộ Tư pháp ban hành