Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Công văn 2335/TCT-KK được Tổng cục Thuế ban hành năm 2015 nhằm tăng cường công tác quản lý, kiểm tra và giám sát quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT). Văn bản này đưa ra các chỉ đạo cụ thể đối với Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc phân loại hồ sơ hoàn thuế, nhận diện rủi ro và ngăn chặn các hành vi gian lận trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước.

- Phân loại và xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT

Tổng cục Thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương thực hiện nghiêm túc việc phân loại hồ sơ hoàn thuế theo đúng quy định của pháp luật quản lý thuế, cụ thể:

  • Hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau: Áp dụng đối với các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ pháp luật thuế tốt, không thuộc nhóm đối tượng có rủi ro cao về thuế. Tuy nhiên, cơ quan thuế vẫn phải thực hiện giám sát chặt chẽ sau hoàn thuế để đảm bảo tính chính xác của hồ sơ.
  • Hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau: Bắt buộc áp dụng đối với các trường hợp doanh nghiệp hoàn thuế lần đầu, doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, hoặc doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hóa đơn, chứng từ.

- Nhận diện các dấu hiệu rủi ro và biện pháp nghiệp vụ

Để ngăn chặn tình trạng gian lận hoàn thuế GTGT, Công văn 2335/TCT-KK nhấn mạnh việc nhận diện các doanh nghiệp có rủi ro cao thông qua các tiêu chí:

  • Doanh nghiệp có doanh thu xuất khẩu tăng đột biến nhưng năng lực sản xuất, cơ sở vật chất và quy mô lao động không tương xứng.
  • Doanh nghiệp sử dụng hóa đơn đầu vào của các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, bỏ trốn hoặc giải thể tại thời điểm phát sinh giao dịch.
  • Các giao dịch thanh toán qua ngân hàng có dấu hiệu đáng ngờ, không rõ ràng hoặc có sự quay vòng dòng tiền giữa các bên liên quan.
  • Biện pháp xử lý: Cơ quan thuế phải thực hiện thanh tra, kiểm tra thực tế tại trụ sở của người nộp thuế và tiến hành xác minh đối chiếu với các nhà cung cấp đầu vào trước khi quyết định hoàn thuế.

- Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác hoàn thuế

Công văn yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và các cơ quan chức năng khác nhằm xác minh tính hợp pháp của hồ sơ hoàn thuế:

  • Phối hợp với cơ quan Hải quan để xác minh thực tế hàng hóa xuất khẩu, tránh tình trạng khai khống tờ khai hải quan hoặc xuất khẩu hàng hóa giả mạo.
  • Phối hợp với các ngân hàng thương mại để xác minh chứng từ thanh toán qua ngân hàng, đảm bảo dòng tiền giao dịch mua bán là có thật và hợp pháp.
  • Chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an để điều tra và xử lý nghiêm các trường hợp có dấu hiệu tội phạm, mua bán hóa đơn bất hợp pháp nhằm trục lợi tiền hoàn thuế của Nhà nước.

- Trách nhiệm của cơ quan thuế và cán bộ công chức

Tổng cục Thuế quy định rõ trách nhiệm của từng cấp quản lý trong quy trình hoàn thuế:

  • Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả công tác hoàn thuế GTGT trên địa bàn quản lý, đảm bảo giải quyết hồ sơ đúng thời hạn quy định.
  • Cán bộ thuế được giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ phải thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, không gây phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp tuân thủ tốt, nhưng đồng thời không được bỏ sót các hành vi gian lận.
  • Xử lý kỷ luật nghiêm khắc đối với những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, có hành vi nhũng nhiễu hoặc tiếp tay cho doanh nghiệp thực hiện hành vi gian lận hoàn thuế.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2335/TCT-KK
V/v hoàn thuế GTGT

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2015

 

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bình Phước

 

Trả lời công văn số 798/CT-KTTI ngày 20 tháng 5 năm 2015 của Cục Thuế tỉnh Bình Phước về việc xử lý kết quả kiểm tra sau hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với Công ty TNHH Hoàng Lê, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ hướng dẫn Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/1/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT, hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ;

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 2 Thông tư số 15/2011/TT-NHNN ngày 12/08/2011 của Ngân hàng Nhà nước quy định việc mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt của cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh:

“1. Cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua các cửa khẩu quốc tế của Việt Nam bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức quy định dưới đây phải khai báo Hải quan cửa khẩu:

a) 5.000 USD (Năm nghìn Đôla Mỹ) hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương;

b) 15.000.000 VNĐ (Mười lăm triệu đồng Việt Nam).

2. Trường hợp cá nhân nhập cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt bằng hoặc thấp hơn mức 5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương và có nhu cầu gửi số ngoại tệ tiền mặt này vào tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của cá nhân mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ngoại hối (sau đây gọi chung là tổ chức tín dụng được phép), cũng phải khai báo Hải quan cửa khẩu. Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh có xác nhận của Hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt mang vào là cơ sở để tổ chức tín dụng được phép cho gửi ngoại tệ tiền mặt vào tài khoản thanh toán.

3. Mức ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt quy định phải khai báo Hải quan cửa khẩu quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với những cá nhân mang theo các loại phương tiện thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt Nam như séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác.

Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 12485/BTC-TCT ngày 18/9/2013 của Bộ Tài chính về việc tăng cường công tác quản lý thuế, hải quan liên quan đến hoàn thuế GTGT hàng hóa xuất khẩu qua biên giới đất liền;

Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 14094/BTC-TCT ngày 07/10/2014 của Bộ Tài chính về việc kiểm tra nguồn gốc đồng tiền thanh toán từ tài khoản vãng lai đối với hàng hóa xuất khẩu qua biên giới đất liền;

Căn cứ công văn số 5806/TCT-KK ngày 24/12/2014 của Tổng cục Thuế về việc chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (thanh toán qua ngân hàng);

Căn cứ các quy định và hướng dẫn nêu trên, trường hợp Công ty TNHH Hoàng Lê đã được giải quyết hoàn thuế theo Quyết định số 662/QĐ-TCT ngày 31/5/2013 của Cục Thuế tỉnh Bình Phước. Qua công tác kiểm tra sau hoàn thuế, Cục Thuế phát hiện người bán (Công ty TNHH Hoàng Lê) nhận tiền thanh toán của người nhập khẩu nước ngoài (thương nhân Campuchia) từ tài khoản vãng lai mở tại ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên xác minh nguồn gốc đồng tiền nộp vào tài khoản vãng lai người nhập khẩu (thương nhân Campuchia) không khai báo và cũng không có xác nhận của cơ quan Hải quan dành cho người nhập cảnh là không phù hợp với quy định của ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối. Theo đó, Công ty TNHH Hoàng Lê bị thu hồi lại số tiền thuế đã hoàn có liên quan, đồng thời bị xử phạt theo quy định.

Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bình Phước được biết./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Các Vụ: PC, CS, TTr;
- Lưu: VT, KK (2b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
 PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




 Nguyễn Đại Trí

 

 

 

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 2335/TCT-KK năm 2015 về hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành

Số hiệu: 2335/TCT-KK
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 15/06/2015
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
Người ký: Nguyễn Đại Trí
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 15/06/2015
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 2335/TCT-KK năm 2015 về hoàn thuế gi...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký