Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Công văn 2432/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về việc tính và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp và người lao động xác định rõ quyền lợi, trách nhiệm tài chính khi chấm dứt hợp đồng lao động.

- Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó.

  • Thời gian làm việc thực tế bao gồm: thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động; thời gian thử việc; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản; thời gian nghỉ điều trị, phục hồi chức năng khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; thời gian nghỉ ngơi hàng tuần, nghỉ hằng năm có hưởng lương theo quy định.
  • Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: thời gian người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.

- Hướng dẫn xử lý các khoảng thời gian đặc thù

Công văn đưa ra hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp có sự đan xen giữa các thời kỳ đóng và không đóng bảo hiểm thất nghiệp nhằm bảo đảm quyền lợi tối đa cho người lao động:

  • Đối với khoảng thời gian trước ngày 01 tháng 01 năm 2009 (thời điểm Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 về bảo hiểm thất nghiệp chưa có hiệu lực), người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với thời gian làm việc thực tế tại doanh nghiệp.
  • Đối với thời gian thử việc, nếu sau khi hết thời gian thử việc người lao động tiếp tục làm việc và ký hợp đồng lao động chính thức với người sử dụng lao động thì thời gian thử việc này được tính vào thời gian làm việc thực tế để tính trợ cấp thôi việc. Do thời gian thử việc không thuộc đối tượng bắt buộc đóng bảo hiểm thất nghiệp, nên khoảng thời gian này không bị trừ đi khi tính trợ cấp thôi việc.
  • Thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng không hưởng lương tại doanh nghiệp nhưng được cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả chế độ vẫn được tính là thời gian làm việc thực tế để làm cơ sở tính trợ cấp thôi việc.

- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc

  • Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
  • Tiền lương này bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận và ghi cụ thể trong hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.

- Trách nhiệm và nghĩa vụ của người sử dụng lao động

  • Người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội để xác nhận thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động, làm cơ sở tính toán chính xác số năm làm việc được hưởng trợ cấp thôi việc.
  • Doanh nghiệp phải thực hiện thanh toán đầy đủ khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động trong thời hạn quy định (trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày).
  • Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được hạch toán vào chi phí quản lý hoặc chi phí sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về thuế và tài chính hiện hành.

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2432/LĐTBXH-LĐTL
V/v trợ cấp thôi việc

Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2014

 

Kính gửi: Công ty cổ phần Đầu tư T&M Việt Nam

Trả lời công văn số 237/CV-2014 ngày 24/6/2014 của Công ty cổ phần Đầu tư T&M Việt Nam về trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 48, Bộ luật lao động 2012 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động đã làm đủ 12 tháng trở lên trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật lao động; thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 2, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp thì người đang hưởng lương hưu hàng tháng có giao kết hợp đồng lao động (hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng và hợp đồng lao động không xác định thời hạn) với người sử dụng lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Căn cứ vào các quy định nêu trên và nội dung công văn số 237/CV-2014 của Công ty cổ phần Đầu tư T&M Việt Nam thì:

- Trường hợp ông A, người đang hưởng lương hưu hàng tháng có giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty nay chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật thì ông A được hưởng trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian ông A làm việc tại Công ty.

- Trường hợp ông B làm việc cho Công ty từ 01/01/2009 đến nay nhưng đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế tại nơi khác nay chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết với Công ty theo đúng quy định của pháp luật lao động thì Công ty vẫn phải có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho ông B. Việc ông B tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp tại nơi khác không liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc của Công ty. Thời gian để tính trợ cấp thôi việc cho ông B là thời gian làm việc thực tế tại Công ty. Trường hợp trong hợp đồng lao động có thỏa thuận về khoản tiền chi trả bảo hiểm thất nghiệp trong tiền lương thì thời gian thực hiện hợp đồng lao động này không tính để chi trả trợ cấp thôi việc.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Công ty cổ phần Đầu tư T&M Việt Nam được biết, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật./.

 


Nơi nhận:

- Như trên;
- TTr Phạm Minh Huân (để b/c);
- Lưu VT, Vụ LĐTL.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG




Tống Thị Minh

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 2432/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành

Số hiệu: 2432/LĐTBXH-LĐTL
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 10/07/2014
Nơi ban hành: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Người ký: Tống Thị Minh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 10/07/2014
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 2432/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 trợ cấp th...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký