Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu về Công văn 2493/TCT-DNL

Công văn 2493/TCT-DNL do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về việc lập hóa đơn, chứng từ đối với hoạt động trả hàng hoặc bàn giao hàng hóa nhập khẩu ủy thác. Đây là văn bản pháp lý quan trọng giúp tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế và quản lý hóa đơn đối với giao dịch ủy thác nhập khẩu.

1. Quy định về việc lập hóa đơn khi bàn giao hàng hóa nhập khẩu ủy thác

Theo hướng dẫn tại Công văn 2493/TCT-DNL và các quy định pháp luật về thuế liên quan, khi nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa, bên nhận ủy thác phải thực hiện các thủ tục lập hóa đơn như sau:

  • Trường hợp bàn giao hàng hóa cho bên ủy thác: Khi xuất trả hàng hóa nhập khẩu ủy thác cho bên ủy thác, bên nhận ủy thác phải lập hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT). Trên hóa đơn phải ghi rõ giá trị hàng hóa thực tế nhập khẩu (bao gồm giá mua theo tờ khai hải quan, các khoản thuế phải nộp ở khâu nhập khẩu như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường nếu có).
  • Hóa đơn dịch vụ ủy thác: Đối với khoản phí dịch vụ ủy thác nhập khẩu theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên nhận ủy thác phải lập một hóa đơn GTGT riêng biệt để tính thuế GTGT cho dịch vụ này (thông thường áp dụng thuế suất 10%).
  • Phương thức luân chuyển chứng từ: Bên nhận ủy thác có trách nhiệm bàn giao toàn bộ chứng từ nộp thuế ở khâu nhập khẩu (như biên lai nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu, tờ khai hải quan) cho bên ủy thác để làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

2. Xác định giá tính thuế và thuế suất đối với hàng hóa trả ủy thác

Việc xác định nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa nhập khẩu ủy thác được thực hiện chặt chẽ nhằm tránh thất thu thuế và trùng lặp thuế:

  • Giá tính thuế GTGT: Là giá trị hàng hóa nhập khẩu thực tế tại cửa khẩu cộng với các khoản thuế phát sinh ở khâu nhập khẩu mà bên nhận ủy thác đã nộp thay cho bên ủy thác.
  • Khấu trừ thuế đầu vào: Bên ủy thác nhập khẩu được quyền kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa nhập khẩu ủy thác dựa trên hóa đơn GTGT do bên nhận ủy thác xuất trả, kèm theo chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu thực tế.

3. Thủ tục chứng từ đối với trường hợp trả lại hàng hóa nhập khẩu

Trong trường hợp phát sinh việc trả lại hàng hóa do không đúng quy cách, chủng loại hoặc chất lượng thỏa thuận, các bên phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt:

  • Biên bản thỏa thuận: Hai bên (bên ủy thác và bên nhận ủy thác) phải lập biên bản ghi rõ lý do trả lại hàng hóa, số lượng, giá trị hàng hóa trả lại.
  • Lập hóa đơn điều chỉnh hoặc hóa đơn trả hàng: Bên trả lại hàng hóa phải lập hóa đơn xuất trả hàng theo đúng quy định hiện hành về hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ điều chỉnh doanh thu, chi phí và số thuế GTGT tương ứng đã kê khai.
  • Thủ tục tái xuất (nếu có): Trường hợp hàng hóa phải xuất trả lại cho nhà cung cấp nước ngoài, bên nhận ủy thác phối hợp với bên ủy thác thực hiện các thủ tục hải quan tái xuất hàng hóa theo quy định của pháp luật hải quan.

4. Ý nghĩa và lưu ý đối với doanh nghiệp

Công văn 2493/TCT-DNL mang lại sự rõ ràng trong việc xử lý hóa đơn đối với các giao dịch ủy thác nhập khẩu phức tạp. Doanh nghiệp cần lưu ý:

  • Đảm bảo tính thống nhất giữa hợp đồng ủy thác nhập khẩu, tờ khai hải quan và hóa đơn xuất trả hàng.
  • Lưu trữ đầy đủ chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên để đảm bảo điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
  • Thực hiện xuất hóa đơn đúng thời điểm bàn giao hàng hóa thực tế để tránh bị xử phạt vi phạm hành chính về thời điểm lập hóa đơn.

BỘ TÀI CHÍNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------

Số: 2493/TCT-DNL
V/v xuất hoá đơn trả hàng nhập khẩu uỷ thác

Hà Nội, ngày 9 tháng 7 năm 2010

 

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi

Trả lời Công văn số 104/CT-KK&KTT ngày 19/1/2010 và Công văn số 961/CT- KK&TT ngày 18/5/2010 của Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết các vướng mắc trong hoàn thuế GTGT đối với các hoá đơn xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ dầu khí Quảng Ngãi cho Ban quản lý dự án máy lọc dầu Dung Quất. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm 2.2, mục IV, Phần B, Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng quy định.

"Cơ sở kinh doanh xuất khẩu nhập khẩu là đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nhận nhập khẩu hàng hoá uỷ thác cho các cơ sở khác, khi trả hàng cơ sở nhận uỷ thác lập chứng từ như sau:

Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, nếu đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, cơ sở lập hoá đơn GTGT để cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu. Trường hợp cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác chưa nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, cơ sở lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo lệnh điều động nội bộ theo quy định làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác, cơ sở mới lập hoá đơn theo quy định trên.

Hoá đơn GTGT xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác ghi:

(a) Giá bán chưa có thuế GTGT bao gồm: giá trị hàng hoá thực tế nhập khẩu theo giá CIF, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản phải nộp theo chế độ quy định ở khâu nhập khẩu (nếu có).

(b) Thuế suất thuế GTGT và tiền thuế GTGT ghi theo số thuế đã nộp ở khâu nhập khẩu.

(c) Tổng cộng tiền thanh toán (= a + b)

Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác lập hoá đơn GTGT riêng để thanh toán tiền hoa hồng uỷ thác nhập khẩu".

Căn cứ quy định trên, trường hợp Ban quản lý dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất (bên uỷ thác - bên A) ký hợp đồng uỷ thác với Công ty TNHH một thành viên dịch vụ dầu khí Quảng Ngãi (bên nhận uỷ thác - bên B) theo quy định của Luật Thương mại để uỷ thác cho Công ty TNHH một thành viên dịch vụ dầu khí Quảng Ngãi thực hiện việc nhập khẩu vật tư, thiết bị (gọi chung là hàng hoá) phục vụ dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Công ty TNHH một thành viên dịch vụ dầu khí Quảng Ngãi đã thực hiện mở tờ khai hải quan đối với hàng hoá được bên A uỷ thác người, nộp các khoản thuế phát sinh ở khâu nhập khẩu vào ngân sách nhà nước, nhận hàng hoá nhập khẩu từ đơn vị bán (bên nước ngoài) thì Công ty phải lập hoá đơn GTGT xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác cho bên A theo quy định tại điểm 2.2, mục IV, Phần B, Thông tư số 129/2008/TT-BTC nêu trên. Ban quản lý dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất căn cứ các hoá đơn này kê khai, khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định.

Tổng cục thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi được biết./.

 

 

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Vũ Thị Mai

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 2493/TCT-DNL về xuất hoá đơn trả hàng nhập khẩu uỷ thác do Bộ Tài chính ban hành

Số hiệu: 2493/TCT-DNL
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 09/07/2010
Nơi ban hành: Bộ Tài chính
Người ký: Vũ Thị Mai
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 09/07/2010
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 2493/TCT-DNL về xuất hoá đơn trả hàn...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký