Giới thiệu về Công văn 3089/TCT-QLN năm 2024
Công văn 3089/TCT-QLN được Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn, chấn chỉnh và thống nhất quy trình nghiệp vụ xử lý việc hủy khoanh tiền thuế nợ trên phạm vi toàn quốc. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng giúp các cơ quan thuế địa phương thực hiện đúng các quy định của Luật Quản lý thuế và Nghị quyết số 94/2019/QH14, đảm bảo tính chính xác, minh bạch trong công tác quản lý nợ thuế và tránh thất thu ngân sách nhà nước.
Các nội dung chính sách cốt lõi về hủy khoanh tiền thuế nợ
Văn bản tập trung làm rõ các quy định về đối tượng, trình tự thủ tục và hệ quả pháp lý khi thực hiện hủy khoanh tiền thuế nợ, cụ thể như sau:
- Các trường hợp phải thực hiện hủy khoanh tiền thuế nợ: Cơ quan thuế tiến hành hủy khoanh tiền thuế nợ đối với người nộp thuế đã có quyết định khoanh nợ trước đó nhưng được xác định là không đúng đối tượng được khoanh nợ; hoặc trường hợp người nộp thuế quay lại hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoặc khi cơ quan chức năng phát hiện hồ sơ, thủ tục khoanh nợ trước đây chưa đảm bảo đầy đủ điều kiện pháp lý theo quy định.
- Thẩm quyền ban hành quyết định: Thủ trưởng cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế là người có thẩm quyền ban hành quyết định hủy khoanh tiền thuế nợ. Quyết định này phải ghi rõ lý do hủy, số tiền thuế nợ được phục hồi và thời điểm áp dụng.
- Xử lý tiền chậm nộp sau khi hủy khoanh nợ: Ngay sau khi quyết định hủy khoanh nợ có hiệu lực, cơ quan thuế phải thực hiện tính lại tiền chậm nộp đối với khoản nợ thuế được phục hồi. Thời gian tính tiền chậm nộp được xác định liên tục từ ngày quyết định khoanh nợ trước đó có hiệu lực cho đến ngày người nộp thuế nộp đủ tiền thuế vào ngân sách nhà nước.
- Cập nhật dữ liệu trên hệ thống thông tin quản lý thuế (TMS): Các Cục Thuế và Chi cục Thuế có trách nhiệm cập nhật kịp thời, đầy đủ thông tin của quyết định hủy khoanh nợ vào hệ thống ứng dụng TMS để phục vụ công tác theo dõi, quản lý và cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy trình.
Trách nhiệm triển khai của cơ quan thuế các cấp
Để nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm:
- Tăng cường công tác rà soát và xác minh thông tin: Chủ động phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh, chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan để xác minh tình trạng hoạt động thực tế của người nộp thuế đã được khoanh nợ, kịp thời phát hiện các trường hợp quay lại hoạt động để thực hiện hủy khoanh nợ theo quy định.
- Tự kiểm tra và rà soát hồ sơ đã ban hành: Tổ chức rà soát toàn bộ các quyết định khoanh nợ đã ban hành theo Nghị quyết số 94/2019/QH14 và Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót về đối tượng hoặc trình tự, thủ tục.
- Áp dụng các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế nợ thuế: Đối với các khoản nợ thuế sau khi bị hủy khoanh nợ, cơ quan thuế phải áp dụng ngay các biện pháp đôn đốc thu nợ và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế để thu hồi tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước.
Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của văn bản
Công văn 3089/TCT-QLN năm 2024 là cơ sở pháp lý quan trọng giúp chuẩn hóa quy trình xử lý nợ thuế, hạn chế tối đa việc trục lợi chính sách khoanh nợ. Việc thực hiện nghiêm túc công văn này không chỉ giúp ngành Thuế quản lý chặt chẽ nguồn thu, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế mà còn tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch cho mọi đối tượng nộp thuế.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3089/TCT-QLN | Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2024 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1133/BC-CTBCA ngày 14/6/2024 của Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn về việc khoanh tiền thuế nợ của Công ty Cổ phần khoáng sản Na Rì Haminco. Về việc này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế quy định:
“c) Đối với người nộp thuế quy định tại khoản 3 Điều 83 Luật Quản lý thuế thì thời gian khoanh nợ được tính từ ngày Tòa án có thẩm quyền thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc người nộp thuế đã gửi hồ sơ phá sản doanh nghiệp đến cơ quan quản lý thuế nhưng đang trong thời gian làm các thủ tục thanh toán, xử lý nợ theo quy định của Luật Phá sản đến khi người nộp thuế tiếp tục hoạt động kinh doanh hoặc được xóa nợ theo quy định.”
Tại điểm b khoản 3 Điều 24 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định:
“b) Trường hợp người nộp thuế đã được cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định khoanh tiền thuế nợ mà Tòa án hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc người nộp thuế tiếp tục hoạt động kinh doanh thì cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực của quyết định khoanh tiền thuế nợ theo Mẫu số 02/KN tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này. Cơ quan quản lý thuế tính tiền chậm nộp đối với người nộp thuế kể từ ngày ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực của quyết định khoanh tiền thuế nợ đến ngày người nộp thuế nộp đủ số tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty cổ phần khoáng sản Na Rì Haminco đã được khoanh nợ theo quy định tại khoản 3 Điều 83 Luật Quản lý thuế mà tiếp tục hoạt động kinh doanh thì cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực của quyết định khoanh nợ tiền thuế nợ và tính chậm nộp đối với Công ty đến ngày người nộp thuế nộp đủ số tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp quyết định cưỡng chế tiền thuế nợ hết hiệu lực mà Công ty cổ phần Khoáng sản Na Rì Haminco vẫn chưa nộp đủ tiền thuế nợ vào Ngân sách Nhà nước thì Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn tiếp tục thực hiện cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn biết và thực hiện./.
|
| TL.TỔNG CỤC TRƯỞNG |