Công văn 34/CV-NHNN1 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về hoạt động cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với cán bộ, công nhân viên chức (CBCNV) và cơ chế thu hồi nợ trực tiếp từ nguồn tiền lương, trợ cấp cùng các khoản thu nhập hợp pháp khác của người đi vay.
Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ quy trình thiết lập khoản vay, thẩm định điều kiện khách hàng, và phương thức phối hợp thu hồi nợ giữa tổ chức tín dụng với cơ quan chi trả thu nhập. Đối tượng áp dụng trực tiếp là các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có nhu cầu vay vốn, và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chịu trách nhiệm quản lý, chi trả lương cho người lao động.
Điều kiện và nguyên tắc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với CBCNV- Tổ chức tín dụng thực hiện xem xét và quyết định cho vay không có bảo đảm bằng tài sản khi người vay là CBCNV đáp ứng đầy đủ các điều kiện về năng lực hành vi dân sự, có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, lành mạnh và có khả năng tài chính thực tế để hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn.
- Người vay phải có hợp đồng lao động dài hạn hoặc biên chế chính thức, có nguồn thu nhập ổn định từ tiền lương, phụ cấp hoặc các khoản thu nhập hợp pháp khác được cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp xác nhận bằng văn bản.
- Mức cho vay, thời hạn cho vay và lãi suất áp dụng phải được tính toán phù hợp với nhu cầu vốn thực tế, mức thu nhập hàng tháng của người vay và các quy định nội bộ về quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng.
- Cơ chế thu hồi nợ được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện bằng văn bản giữa ba bên bao gồm: tổ chức tín dụng cho vay, người vay (CBCNV) và cơ quan, tổ chức quản lý chi trả thu nhập.
- Cơ quan, tổ chức quản lý chi trả thu nhập có trách nhiệm thực hiện khấu trừ trực tiếp từ tiền lương, trợ cấp hoặc các khoản thu nhập khác của người vay theo đúng định kỳ và tỷ lệ đã cam kết để chuyển trả cho tổ chức tín dụng.
- Trong trường hợp người vay chuyển công tác, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc, cơ quan quản lý cũ có trách nhiệm thông báo kịp thời cho tổ chức tín dụng và phối hợp giải quyết dứt điểm nghĩa vụ nợ còn lại trước khi hoàn tất các thủ tục nhân sự liên quan.
- Tổ chức tín dụng: Có trách nhiệm thẩm định nghiêm túc hồ sơ vay vốn, đánh giá chính xác khả năng tài chính và tính xác thực của nguồn thu nhập được xác nhận; giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay và đôn đốc thu hồi nợ đúng hạn.
- Người vay vốn: Cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng; đồng thời thực hiện ủy quyền không hủy ngang cho cơ quan chi trả thu nhập khấu trừ lương để thanh toán nợ.
- Cơ quan, tổ chức chi trả thu nhập: Chịu trách nhiệm xác nhận chính xác, trung thực về mức lương và các khoản thu nhập của CBCNV; thực hiện nghiêm túc việc khấu trừ và chuyển tiền thanh toán nợ đúng hạn cho tổ chức tín dụng theo đúng văn bản thỏa thuận đã ký kết.
Công văn 34/CV-NHNN1 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các tổ chức tín dụng và các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn tại văn bản này nhằm bảo đảm an toàn hoạt động tín dụng, hạn chế nợ xấu phát sinh, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ đời sống và nhu cầu tiêu dùng chính đáng cho đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 34/CV-NHNN1 | Hà Nội, ngày 07 tháng 1 năm 2000 |
Kính gửi: Các tổ chức tín dụng
Trước tháng 12/1999, một số tổ chức tín dụng có văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện việc cho vay đối với cán bộ công nhân viên và thu nợ vay từ tiền lương, trợ cấp và các khoản thu nhập thường xuyên khác. Đây là một hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo Điều 52 của Luật Các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên cho đến thời điểm nói trên, Chính phủ chưa có quy định cụ thể về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nên việc bảo đảm tiền vay vẫn thực hiện theo Quy chế cầm cố, thế chấp, bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban hành theo Quyết định số 217/QĐ-NH1 ngày 17/8/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, vì vậy việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chưa đủ cơ sở pháp lý để thực hiện. Xét thấy nhu cầu vay vốn này là hợp lý và phù hợp với chủ trường kích cầu mở rộng cho vay tiêu dùng của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã trao đổi ý kiến với một số cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức đại diện quyền lợi của người lao động, nhằm tạo sự nhất trí trước khi trình Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thực hiện.
Tuy nhiên do ý kiến các cơ quan trên chưa đồng tình với chủ trương này nên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có công văn số 938/CV-CSTT3 ngày 3/12/1999, đề nghị các tổ chức tín dụng trước mắt chưa thực hiện cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với cán bộ công nhân viên (CBCNV) và thu nợ từ tiền lương, trợ cấp và các khoản thu nhập thường xuyên khác.
Ngày 29/12/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 13/01/2000, trong đó có các quy định về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Trên cơ sở Nghị định này và nhu cầu thực tế cho vay CBCNV hiện nay, để việc triển khai thực hiện được thuận lợi, góp phần mở rộng tín dụng và đáp ứng nhu cầu vốn cho CBCNV, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với CBCNV và thu nợ từ nguồn thu nhập thường xuyên (sau đây gọi tắt là thu nhập) như sau:
1. Các tổ chức tín dụng chủ động xem xét quyết định việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với CBCNV phù hợp với Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và quy định của Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản trên nguyên tắc đảm bảo thu hồi nợ vay và tự chịu trách nhiệm.
2. Điều kiện cho vay đối với CBCNV:
a) Có năng lực pháp luật và năng lực hàng vi dân sự, có tín nhiệm đối với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi. Đối với CBCNV vay lần đầu cần có ý kiến đồng ý của cơ quan quản lý lao động hoặc cơ quan quản lý và chi trả thu nhập.
b) Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật.
c) Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. Người vay vốn chịu trách nhiệm trước pháp luật trong việc sử dụng vốn vay đúng cam kết.
d) Có thu nhập về tiền lương, trợ cấp hoặc các hình thức khác do một cơ quan, tổ chức trả thường xuyên, ổn định trong một thời hạn nhất định theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
3. Tổ chức tín dụng quy định mức dư nợ tối đa cho vay một CBCNV không có bảo đảm bằng tài sản trên cơ sở nguồn vốn của mình, mức độ tín nhiệm, mức độ thu nhập thường xuyên của người vay so với giá trị khoản vay và các khả năng tài chính khác mà người vay có thể và cam kết dùng để trả nợ.
4. Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với CBCNV là: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (giám đốc), Phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của tổ chức tín dụng cho vay; Người thẩm định, xét duyệt cho vay; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (giám đốc) tổ chức tín dụng cho vay.
5. Mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với CBCNV của một tổ chức tín dụng không được vượt quá mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tổng mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
6. Tổ chức tín dụng có thể thoả thuận với người vay vốn và cơ quan, tổ chức quản lý CBCNV hoặc quản lý chi trả thu nhập về việc CBCNV uỷ quyền cho các cơ quan nói trên trả nợ theo cam kết cho tổ chức tín dụng từ nguồn thu nhập của mình.
7. Khi cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với CBCNV, các tổ chức tín dụng cần đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, đồng thời thực hiện công bố công khai các điều kiện thủ tục vay vốn, có sự giải thích tuyên truyền thích đáng để tạo sự đồng thuận của cơ quan quản lý lao động, quản lý và chi trả thu nhập và tổ chức công đoàn tại nơi người vay đang lao động hoặc cư trú.
Công văn này có hiệu lực kể từ ngày 14/1/2000 và thay thế công văn số 938/CV-CSTT3 ngày 3/12/1999 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Căn cứ nội dung công văn này các tổ chức tín dụng có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện trong hệ thống. Các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện cần phản ánh kịp thời về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để xem xét xử lý.
|
| Trần Minh Tuấn (Đã ký) |
- 1 Quyết định 217/QĐ-NH1 năm 1996 về Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn Ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2 Luật các Tổ chức tín dụng 1997
- 3 Công văn 938/CV-CSTT3 của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay phục vụ đời sống, bảo đảm an toàn vốn của TCTD bằng biện pháp thu nợ từ tiền lương, trợ cấp của CBCNV
- 1 Quyết định 217/QĐ-NH1 năm 1996 về Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn Ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2 Luật các Tổ chức tín dụng 1997
- 3 Công văn 938/CV-CSTT3 của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay phục vụ đời sống, bảo đảm an toàn vốn của TCTD bằng biện pháp thu nợ từ tiền lương, trợ cấp của CBCNV
- 4 Nghị định 178/1999/NĐ-CP về việc bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
- 5 Công văn 49/CV-NHNN1 của Ngân hàng Nhà nước về việc đính chính văn bản số 34/CV-NHNN1 ngày 7/1/2000
- 6 Công văn 98/CV-NHNN1 hướng dẫn văn bản 34/CV-NHNN1 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành