Giới thiệu chung về Công văn 3452/TCHQ-GSQL
Công văn 3452/TCHQ-GSQL do Tổng cục Hải quan ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng gửi đến Cục Hải quan các tỉnh, thành phố nhằm thống nhất quy trình thực hiện thủ tục hải quan và kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất khẩu khoáng sản thạch anh (quartz). Văn bản này tập trung vào việc làm rõ các điều kiện xuất khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn gốc hợp pháp của khoáng sản và phân định thẩm quyền quản lý của các Bộ ngành liên quan nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại và xuất khẩu khoáng sản thô trái quy định.
1. Phân định thẩm quyền quản lý chuyên ngành đối với thạch anh
Công văn nhấn mạnh việc áp dụng các quy định pháp luật về quản lý khoáng sản xuất khẩu phải dựa trên mục đích sử dụng và tiêu chuẩn kỹ thuật của mặt hàng thạch anh:
- Trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Xây dựng: Nếu thạch anh được xuất khẩu làm vật liệu xây dựng hoặc nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng, doanh nghiệp phải đối chiếu với các quy định, tiêu chuẩn và điều kiện xuất khẩu quy định tại các Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng (như Thông tư 05/2018/TT-BXD và các văn bản sửa đổi, bổ sung).
- Trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Công Thương: Nếu thạch anh được sử dụng cho các mục đích công nghiệp khác (như sản xuất silicon, kính nổi, linh kiện điện tử, luyện kim), tiêu chuẩn và điều kiện xuất khẩu phải tuân thủ theo quy định của Bộ Công Thương về xuất khẩu khoáng sản công nghiệp (như Thông tư 12/2016/TT-BCT và các văn bản liên quan).
2. Điều kiện và tiêu chuẩn kỹ thuật để thạch anh được phép xuất khẩu
Để đảm bảo tài nguyên khoáng sản được chế biến sâu trước khi xuất khẩu, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt:
- Yêu cầu về mức độ chế biến: Thạch anh xuất khẩu phải trải qua quá trình gia công, chế biến (như đập, nghiền, sàng, phân loại kích cỡ hoặc tuyển từ) đạt các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể. Nghiêm cấm xuất khẩu thạch anh ở dạng thô, dạng nguyên khai chưa qua chế biến.
- Tiêu chuẩn về hàm lượng và kích thước: Lô hàng xuất khẩu phải đạt hàm lượng SiO2 tối thiểu và giới hạn tỷ lệ các tạp chất đi kèm, đồng thời kích thước hạt phải nằm trong ngưỡng cho phép theo đúng quy chuẩn kỹ thuật của Bộ quản lý chuyên ngành.
- Chứng minh nguồn gốc hợp pháp: Doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ chứng từ chứng minh nguồn gốc khoáng sản được khai thác từ các mỏ có giấy phép khai thác, giấy phép tận thu còn hiệu lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, hoặc hóa đơn mua bán hợp pháp từ các đơn vị được phép khai thác.
3. Hướng dẫn về hồ sơ hải quan và quy trình kiểm tra, giám sát
Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị hải quan địa phương thắt chặt quy trình kiểm tra hồ sơ và thực tế hàng hóa:
- Hồ sơ hải quan bắt buộc: Ngoài các chứng từ thương mại thông thường, doanh nghiệp phải nộp bổ sung bản sao giấy phép khai thác khoáng sản (hoặc hóa đơn mua bán hợp pháp), phiếu phân tích kết quả thử nghiệm thành phần hóa - lý (Test Report) được cấp bởi các phòng thí nghiệm đạt chuẩn VILAS.
- Kiểm tra thực tế và lấy mẫu giám định: Công chức hải quan thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa đối với các lô hàng thạch anh xuất khẩu có nghi vấn. Trong trường hợp không thể xác định được hàm lượng, kích thước hạt bằng mắt thường, cơ quan hải quan sẽ tiến hành lấy mẫu để trưng cầu giám định tại các tổ chức giám định độc lập có chức năng.
- Xử lý kết quả giám định: Kết quả giám định là căn cứ pháp lý duy nhất để cơ quan hải quan quyết định thông quan hoặc xử lý vi phạm nếu lô hàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo quy định.
4. Trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan hải quan địa phương
Văn bản quy định rõ trách nhiệm của các bên trong việc thực thi pháp luật về xuất khẩu khoáng sản:
- Đối với doanh nghiệp: Phải tự khai báo trung thực, chính xác về tên hàng, mã số HS, quy cách, chất lượng và nguồn gốc của thạch anh xuất khẩu. Doanh nghiệp phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật nếu có hành vi gian lận, khai sai thông tin để hợp thức hóa việc xuất khẩu khoáng sản thô.
- Đối với Cục Hải quan các tỉnh, thành phố: Tăng cường chỉ đạo các Chi cục Hải quan cửa khẩu giám sát chặt chẽ, không để xảy ra tình trạng lợi dụng kẽ hở để xuất khẩu thạch anh trái phép. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng tại địa phương (như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng) để xác minh nguồn gốc khoáng sản khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ hoặc có tranh chấp.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3452/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2011 |
Kính gửi: Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh
Trả lời công văn số 551/HQHT-NV ngày 09/6/2011 của Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh về việc nêu tại trích yếu, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Tại công văn số 4341/BCT-CNNg ngày 18/5/2011 của Bộ Công Thương gửi Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh về xuất khẩu bột thạch anh đã nêu rõ: “bột thạch anh là thành phần chính của quặng quaczit…” và “bột thạch anh được phép xuất khẩu nếu đủ điều kiện nêu trong Thông tư số 08/2008/TT-BCT ngày 18/6/2008 của Bộ Công Thương”. Mặt khác, tại phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 08/2008/TT-BCT nêu trên thì quặng quaczit không quy định điều kiện xuất khẩu về kích cỡ mà chỉ quy định về hàm lượng. Do vậy, về xuất khẩu bột thạch anh, đề nghị Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh căn cứ quy định tại Thông tư số 08/2008/TT-BCT nêu trên để thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |