Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tổng quan về Công văn 3735/CTTPHCM-TTHT năm 2021

Công văn 3735/CTTPHCM-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành năm 2021 là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản chi phí phát sinh trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19. Văn bản này tập trung giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế TNCN đối với các khoản chi phí cách ly, chi phí xét nghiệm Covid-19 và các khoản phúc lợi khác mà người sử dụng lao động chi trả cho người lao động.

Chính sách thuế TNCN đối với chi phí xét nghiệm Covid-19

Theo hướng dẫn tại công văn, việc xác định thuế TNCN đối với chi phí xét nghiệm Covid-19 cho người lao động được quy định cụ thể như sau:

  • Trường hợp không tính vào thu nhập chịu thuế: Các khoản chi phí xét nghiệm Covid-19 do doanh nghiệp chi trả nhằm bảo đảm an toàn lao động, phòng chống dịch bệnh tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật được coi là khoản chi phí mang tính chất tập thể, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp. Do đó, khoản chi này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
  • Điều kiện áp dụng: Doanh nghiệp cần có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của doanh nghiệp và danh sách người lao động được xét nghiệm để làm cơ sở hạch toán chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn thuế TNCN cho người lao động.

Chính sách thuế TNCN đối với chi phí cách ly của người lao động nước ngoài

Đối với các khoản chi phí cách ly y tế tập trung tại khách sạn, chi phí đưa đón và ăn uống của các chuyên gia, người lao động nước ngoài khi nhập cảnh vào Việt Nam làm việc, chính sách thuế TNCN được áp dụng như sau:

  • Khoản chi trả thay mang tính chất lợi ích cá nhân: Trường hợp doanh nghiệp chi trả hộ tiền thuê khách sạn, tiền ăn uống, sinh hoạt trong thời gian cách ly cho cá nhân người lao động nước ngoài thì các khoản chi này được xác định là khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả cho người nộp thuế.
  • Nghĩa vụ tính thuế TNCN: Các khoản chi phí cách ly nêu trên phải được cộng vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động để kê khai và nộp thuế theo quy định hiện hành.
  • Trường hợp ngoại lệ: Nếu các khoản chi phí này được quy định rõ trong hợp đồng lao động hoặc quy chế tài chính của doanh nghiệp là chi phí do doanh nghiệp chịu trách nhiệm chi trả phục vụ cho việc tiếp nhận lao động đầu vào, hoặc thuộc diện chi phí công tác phí theo định mức quy định, doanh nghiệp cần đối chiếu kỹ với các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính để thực hiện đúng quy định pháp luật tại từng thời điểm.

Yêu cầu về hồ sơ và chứng từ đối với doanh nghiệp

Để đảm bảo tính hợp pháp và tránh rủi ro truy thu thuế khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ sau:

  • Hợp đồng lao động và Quy chế nội bộ: Quy định rõ ràng về các khoản chi phí đưa đón, cách ly, xét nghiệm đối với người lao động nước ngoài và người lao động trong nước.
  • Hóa đơn, chứng từ hợp lệ: Hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng từ các cơ sở cách ly, cơ sở y tế thực hiện xét nghiệm, có thông tin thanh toán của doanh nghiệp.
  • Quyết định cách ly và danh sách nhân sự: Các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cách ly y tế đối với người lao động và danh sách nhân sự thực tế tham gia cách ly, xét nghiệm.

Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn áp dụng

Công văn 3735/CTTPHCM-TTHT mang lại sự rõ ràng cho các doanh nghiệp trong việc hạch toán chi phí và khấu trừ thuế TNCN trong giai đoạn dịch bệnh. Việc phân định rõ ràng giữa chi phí mang tính chất tập thể (như xét nghiệm Covid-19) và chi phí mang tính chất cá nhân (như chi phí sinh hoạt, cách ly riêng biệt) giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc xây dựng chính sách phúc lợi và tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế đối với nhà nước.

TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3735/CTTPHCM-TTHT
V/v chính sách thuế

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 4 năm 2021

 

Kính gửi: VPĐD Genesia Ventures, Inc. tại TP.HCM
Địa chỉ: Phòng L18-11-13, Tầng 18, Tòa nhà Vincom Center Đồng Khởi, số 72 đường Lê Thánh Tôn, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM
Mã số thuế: 0315946150

Trả lời văn thư số 02/2020/CV-GENESIA ngày 10/3/2021 của VPĐD (Cục Thuế nhận ngày 11/3/2021) về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Cục Thuế TP có ý kiến như sau:

Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN:

Tại Điều 1 hướng dẫn như sau:

1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

b.1) Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú:

b.1.1) Đối với công dân Việt Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú.

b.1.2) Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp.

b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

b.2.1) Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm b.1, khoản 1, Điều này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi.

b.2.2) Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,... không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.

Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.

Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.

…”

Tại Điều 6 hướng dẫn về kỳ tính thuế:

“1. Đối với cá nhân cư trú

a) Kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch.

Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch.

Ví dụ 3: Ông B là người nước ngoài lần đầu tiên đến Việt Nam từ ngày 20/4/2014. Trong năm 2014 tính đến ngày 31/12/2014, ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 130 ngày. Trong năm 2015, tính đến 19/4/2015 ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 65 ngày. Kỳ tính thuế đầu tiên của ông B được xác định từ ngày 20/4/2014 đến hết ngày 19/4/2015. Kỳ tính thuế thứ hai được xác định từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2015.

2. Đối với cá nhân không cư trú

Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập.

…”

Tại Điều 26 hướng dẫn:

“…

2. Khai thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh

a) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế bao gồm:

a.1) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam trả nhưng chưa thực hiện khấu trừ thuế thực hiện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý.

a.2) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài thực hiện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý.

e) Nguyên tắc khai thuế, quyết toán thuế đối với một số trường hợp như sau:

e.1) Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài đã tính và nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của nước ngoài thì được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài, số thuế được trừ không vượt quá số thuế phải nộp tính theo biểu thuế của Việt Nam tính phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại nước ngoài. Tỷ lệ phân bổ được xác định bằng tỷ lệ giữa số thu nhập phát sinh tại nước ngoài và tổng thu nhập chịu thuế.

7. Khai thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài

Cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh tại nước ngoài thực hiện khai thuế theo từng lần phát sinh, riêng cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công trả từ nước ngoài khai thuế theo quý.

8. Khai thuế đối với cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận thu nhập ở nước ngoài

a) Cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận tại nước ngoài khai thuế theo lần phát sinh. Riêng cá nhân không cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh tại Việt Nam nhưng nhận tại nước ngoài khai thuế theo quý.

…”

Căn cứ Điều 2 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung các khổ 1, 2, 3, 4 Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân như sau:

“Điều 1. Người nộp thuế

Người nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân, Điều 2 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 65/2013/NĐ-CP), có thu nhập chịu thuế theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP.

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập;

Đối với cá nhân là công dân của quốc gia, vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân được tính từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam (được tính đủ theo tháng) không phải thực hiện các thủ tục xác nhận lãnh sự để được thực hiện không thu thuế trùng hai lần theo Hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa hai quốc gia.

Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập”

Căn cứ Điểm b.2, Khoản 3 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điều 16 của Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 quy định:

“Hồ sơ khai quyết toán

b.2.1) Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không thuộc trường hợp được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế thay thì khai quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo mẫu sau:

- Tờ khai quyết toán thuế mẫu số 02/QTT-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC.

- Phụ lục mẫu số 02-1/BK-QTT-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC nếu có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.

- Bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm, số thuế đã nộp ở nước ngoài (nếu có). Cá nhân cam kết chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin trên bản chụp đó. Trường hợp tổ chức trả thu nhập không cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân do tổ chức trả thu nhập đã chấm dứt hoạt động thì cơ quan thuế căn cứ cơ sở dữ liệu của ngành thuế để xem xét xử lý hồ sơ quyết toán thuế cho cá nhân mà không bắt buộc phải có chứng từ khấu trừ thuế.

Trường hợp, theo quy định của luật pháp nước ngoài, cơ quan thuế nước ngoài không cấp giấy xác nhận số thuế đã nộp, người nộp thuế có thể nộp bản chụp Giấy chứng nhận khấu trừ thuế (ghi rõ đã nộp thuế theo tờ khai thuế thu nhập nào) do cơ quan trả thu nhập cấp hoặc bản chụp chứng từ ngân hàng đối với số thuế đã nộp ở nước ngoài có xác nhận của người nộp thuế.

- Bản chụp các hóa đơn chứng từ chứng minh khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học (nếu có).

- Trường hợp cá nhân nhận thu nhập từ các tổ chức Quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán và nhận thu nhập từ nước ngoài phải có tài liệu chứng minh về số tiền đã trả của đơn vị, tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài.”

Căn cứ các quy định trên và theo trình bày của VPĐD, trường hợp bà Hoàng Thị Kim Dung (bà Dung) là cá nhân cư trú tại Nhật Bản giai đoạn từ năm 2017 - 2019 (có Giấy chứng nhận cư trú tại Nhật Bản) thì không thực hiện khai quyết toán thuế tại Việt Nam đối với giai đoạn cư trú tại Nhật Bản. Kỳ tính thuế năm 2020 tại Việt Nam được tính từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020.

Trong năm 2020 bà Dung có thu nhập nhận được từ Nhật Bản cho công việc phát sinh tại Việt Nam thì căn cứ vào tình trạng cư trú của bà Dung để xác định việc kê khai thuế TNCN theo quy định tại khoản 7, 8 Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

Trường hợp bà Dung thuộc đối tượng cư trú tại Việt Nam của kỳ tính thuế năm 2020, công ty tại Nhật Bản đã khấu trừ, kê khai thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công đã chi trả cho bà Dung và công ty đã nộp thuế TNCN tại Nhật Bản thì bà được trừ số thuế TNCN đã nộp tại Nhật Bản vào số thuế TNCN phải nộp tại Việt Nam khi thực hiện quyết toán thuế năm nếu có chứng từ chứng minh số thuế đã nộp tại Nhật Bản (cá nhân thực hiện quyết toán thuế năm theo mẫu số 02/QTT-TNCN ban hành theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC, kê khai thu nhập toàn cầu trực tiếp với cơ quan thuế). Số thuế TNCN nộp tại Nhật Bản được trừ không vượt quá số thuế TNCN phải nộp tính theo biểu thuế của Việt Nam theo quy định tại Điểm e.1 Khoản 2 Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.

Cục Thuế TP thông báo cho VPĐD biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Phòng QLHKD,CN&TK;
- Phòng NVDTPC;
- Lưu: VT, TTHT (clmyen.5b).
450/21

CỤC TRƯỞNG




Lê Duy Minh

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 3735/CTTPHCM-TTHT năm 2021 về chính sách thuế thu nhập cá nhân do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành

Số hiệu: 3735/CTTPHCM-TTHT
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 22/04/2021
Nơi ban hành: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
Người ký: Lê Duy Minh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 22/04/2021
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 3735/CTTPHCM-TTHT năm 2021 về chính...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký