Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Công văn 40/UBDT-DTTS năm 2018 do Ủy ban Dân tộc ban hành nhằm hướng dẫn thống nhất việc ghi mục dân tộc trên các giấy tờ hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân và tờ khai căn cước công dân. Đây là văn bản quan trọng giải quyết các vướng mắc thực tế khi người dân kê khai thành phần dân tộc, đặc biệt là đối với các nhóm địa phương hoặc tên gọi khác của các dân tộc thiểu số chưa đồng nhất với Danh mục các dân tộc Việt Nam.

- Nguyên tắc xác định và ghi thành phần dân tộc

  • Việc xác định và ghi thành phần dân tộc của công dân phải căn cứ vào Danh mục các dân tộc Việt Nam được ban hành theo Quyết định số 121-TCTK ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan.
  • Đảm bảo tôn trọng quyền tự xác định dân tộc của công dân theo quy định của Hiến pháp và Bộ luật Dân sự, đồng thời phải bảo đảm tính thống nhất trong quản lý nhà nước về dân cư.
  • Đối với các trường hợp tên gọi dân tộc có sự khác biệt giữa các địa phương hoặc có nhiều tên gọi khác nhau, cơ quan đăng ký và quản lý cư trú cần đối chiếu kỹ lưỡng với danh mục chuẩn để thực hiện ghi nhận chính xác.

- Hướng dẫn cụ thể đối với một số trường hợp đặc thù

  • Đối với những dân tộc có các nhóm địa phương hoặc tên gọi khác nhau (ví dụ: dân tộc Sán Chay gồm nhóm Cao Lan và Sán Chí; dân tộc Dao gồm nhiều nhóm địa phương như Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt...), khi ghi mục dân tộc trên sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân và tờ khai căn cước công dân thì ghi theo tên gọi chính thức của dân tộc đó trong Danh mục 54 dân tộc Việt Nam.
  • Trường hợp công dân tự khai theo tên gọi nhóm địa phương hoặc tên gọi khác chưa có trong danh mục chính thức, cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn công dân ghi theo tên dân tộc chính thức tương ứng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong việc thụ hưởng các chính sách dân tộc của Nhà nước.
  • Nghiêm cấm việc tự ý thay đổi, áp đặt tên gọi dân tộc của công dân trái với quy định pháp luật và nguyện vọng chính đáng của người dân khi đã có đầy đủ cơ sở pháp lý xác định thành phần dân tộc.

- Trách nhiệm phối hợp thực hiện của các cơ quan liên quan

  • Ủy ban Dân tộc đề nghị Bộ Công an chỉ đạo lực lượng Công an các địa phương, đặc biệt là cơ quan quản lý hành chính về trật tự xã hội, hướng dẫn chi tiết cho cán bộ trực tiếp làm công tác cấp sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân và căn cước công dân thực hiện đúng tinh thần hướng dẫn.
  • Cơ quan công tác dân tộc tại các địa phương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an cùng cấp để cung cấp thông tin, giải thích các trường hợp phát sinh vướng mắc về tên gọi dân tộc của đồng bào trên địa bàn.
  • Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc kê khai thành phần dân tộc, tránh các sai sót gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các giao dịch dân sự và thủ tục hành chính sau này.

- Ý nghĩa thực tiễn của hướng dẫn

  • Góp phần chuẩn hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đảm bảo thông tin về dân tộc của mỗi công dân được chính xác, thống nhất giữa các loại giấy tờ tùy thân.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, trong việc thực hiện các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự và tiếp cận các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Hạn chế tối đa những tranh chấp, khiếu nại liên quan đến việc xác định thành phần dân tộc trong các quan hệ pháp luật về hôn nhân gia đình, thừa kế và hộ tịch.

ỦY BAN DÂN TỘC
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 40/UBDT-DTTS
V/v Hướng dẫn ghi mục dân tộc trên sổ hộ khẩu, CMND và tờ khai CCCD

Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2018

 

Kính gửi:

Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và Dữ liệu quốc gia về dân cư,
Tổng Cục Cảnh sát, Bộ Công an

Phúc đáp Công văn số 2013/C72-P3 ngày 06/12/2017 của Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và Dữ liệu quốc gia về dân cư (C72), Tổng Cục cảnh sát, Bộ Công an về việc đề nghị hướng dẫn ghi mục dân tộc trên sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân và Tờ khai căn cước công dân. Sau khi nghiên cứu nội dung công văn, Ủy ban Dân tộc có ý kiến như sau:

1. Việc ghi mục dân tộc trên sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân và tờ khai căn cước công dân cần thực hiện theo Danh mục các dân tộc Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979). Đối với các khó khăn, vướng mắc về việc ghi tên thành phần dân tộc trên các giấy tờ tùy thân của công dân, trước đây Cục Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và Dữ liệu quốc gia về dân cư đã trao đổi tại công văn số 826/C72-P3 ngày 12/7/2016, trong đó có đề xuất cách ghi tên thành phần dân tộc là: ghi tên dân tộc trước, sau đóng mở ngoặc ghi tên nhóm nhỏ hoặc tên gọi khác. Để giải quyết kịp thời nhiệm vụ cấp bách trong cấp giấy tờ tùy thân cho công dân, Ủy ban Dân tộc đã nhất trí với đề xuất trên. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hiện nay lại phát sinh các vướng mắc mới, Ủy ban Dân tộc thấy rằng để đảm bảo cho tính pháp lý và quyền lợi của công dân và giải quyết các vướng mắc trước mắt Cục C72, Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an nên nghiên cứu ghi mục dân tộc theo như đề xuất tại Công văn số 2013/C72-P3 ngày 06/12/2017 là ghi tên nhóm nhỏ hoặc tên gọi khác trước, sau đóng mở ngoặc ghi tên chính thức của dân tộc ví dụ: Pa-co (Ta-ôi) ở một số địa bàn còn có vướng mắc về tên gọi dân tộc, nếu sau một thời gian không còn phản ứng phát sinh thì hướng dẫn triển khai trên toàn quốc. Đồng thời khi triển khai cấp các giấy tờ tùy thân cho người dân, đề nghị Bộ Công an chỉ đạo giải thích cho công dân biết việc để công nhận một dân tộc cần phải có thời gian, đảm bảo tính chính trị, tính pháp lý đầy đủ và phải được cấp có thẩm quyền quyết định.

2. Việc tham mưu cho cấp có thẩm quyền nghiên cứu, xem xét ban hành văn bản bổ sung, sửa đổi Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979 của Tổng cục Thống kê về ban hành “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”, Ủy ban Dân tộc và các bộ, ngành liên quan đang tiếp tục nghiên cứu, thực hiện; hy vọng sẽ sớm có kết quả và được cấp có thẩm quyền công nhận để phục vụ cho việc xác định danh mục các dân tộc cho phù hợp với thực tế hiện nay.

Ủy ban Dân tộc kính gửi Quý cơ quan tham khảo, tổng hợp./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng, CNUB (để b/c),
- TT, PCN Lê Sơn Hải (để b/c);
- Website UBDT;
- Lưu: VT, DTTS (02b)

TL. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
VỤ TRƯỞNG VỤ DÂN TỘC THIỂU SỐ




Nguyễn Thị Tư

 

 

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 40/UBDT-DTTS năm 2018 về hướng dẫn ghi mục dân tộc trên sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân và tờ khai căn cước công dân do Ủy ban Dân tộc ban hành

Số hiệu: 40/UBDT-DTTS
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 16/01/2018
Nơi ban hành: Uỷ ban Dân tộc
Người ký: Nguyễn Thị Tư
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 16/01/2018
Tình trạng: ● Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Quyền dân sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 40/UBDT-DTTS năm 2018 về hướng dẫn g...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký