Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Công văn 4129/TC/TCT do Bộ Tài chính ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về việc điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với các địa phương có sự thay đổi về điều kiện canh tác, hệ thống thủy lợi hoặc bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Văn bản này áp dụng trên phạm vi toàn quốc, hướng dẫn trực tiếp cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Tài chính, Cục Thuế và các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương. Đối tượng chịu tác động trực tiếp bao gồm các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.

Nguyên tắc điều chỉnh hạng đất tính thuế

  • Việc điều chỉnh hạng đất phải căn cứ sát thực tế vào các yếu tố cấu thành hạng đất như nguồn nước tưới tiêu, độ phì nhiêu của đất, vị trí địa lý và điều kiện khí hậu của từng vùng.
  • Đảm bảo tính công bằng, hợp lý giữa các hộ nộp thuế, đồng thời khuyến khích người dân tích cực đầu tư, thâm canh tăng năng suất và bảo vệ tài nguyên đất đai.
  • Quá trình điều chỉnh phải được thực hiện một cách công khai, dân chủ, có sự tham gia giám sát chặt chẽ của người dân và chính quyền cơ sở tại địa phương.

Thẩm quyền và quy trình thực hiện điều chỉnh hạng đất

  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Sở Tài chính phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thuế tiến hành rà soát, lập phương án điều chỉnh hạng đất cụ thể cho từng vùng, từng địa phương.
  • Phương án điều chỉnh hạng đất sau khi xây dựng phải được trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi báo cáo Bộ Tài chính xem xét, phê duyệt chính thức.
  • Cơ quan thuế các cấp có nhiệm vụ tổng hợp số liệu, kiểm tra thực tế hiện trạng sử dụng đất và lập bộ thuế mới dựa trên quyết định điều chỉnh hạng đất đã được phê duyệt.

Các trường hợp cụ thể được xem xét điều chỉnh hạng đất

  • Đất nông nghiệp bị suy thoái nghiêm trọng về chất lượng do thiên tai, bão lụt, sạt lở, hoang hóa hoặc hạn hán kéo dài mà không thể khắc phục được trong thời gian ngắn.
  • Đất nông nghiệp được nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác nhờ vào việc đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, đê điều, kênh mương tưới tiêu từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc nguồn đóng góp của nhân dân.
  • Các khu vực đất có sự thay đổi lớn về cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương nhưng gặp khó khăn về điều kiện thổ nhưỡng ban đầu.

Hiệu lực thi hành

Công văn này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Các quy định hướng dẫn tại văn bản này được áp dụng trực tiếp cho các kỳ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp tiếp theo. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc phát sinh, các địa phương cần kịp thời báo cáo về Bộ Tài chính để xem xét, giải quyết.

BỘ TÀI CHÍNH
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 4129/TC/TCT

Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2002

 

CÔNG VĂN

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 4129 TC/TCT NGÀY 29 THÁNG 4 NĂM 2002 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ VIỆC ĐIỀU CHỈNH HẠNG ĐẤT TÍNH THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Kính gửi : Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thực hiện công văn số 145/CP-NN ngày 5-2-2002 của Chính phủ cho phép một số địa phương được điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp (SDĐNN) trên cơ sở đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước đầu tư lớn về thuỷ lợi, tạo lợi thế cho sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, dẫn tới cần điều chỉnh về hạng đất cho phù hợp; để việc điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và phù hợp với hướng dẫn phân hạng đất tại Nghị định số 73/CP ngày 25-10-1993 của Chính phủ, Thông tư số 92 TT/LB ngày 10-11-1993 của Liên Bộ tài chính, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Tổng cục địa chính) và thực tế đất đai ở các địa phương, Bộ Tài chính hướng dẫn việc thực hiện như sau:

1- Các trường hợp cần điều chỉnh lại hạng đất tính thuế:

a) Các vùng đất sản xuất nông nghiệp được Nhà nước đầu tư lớn về thuỷ lợi như: xây dựng các hồ chứa nước có hệ thống kênh mương tưới tiêu v.v... tạo ra năng suất cây trồng cao hơn hẳn so với trước đây hoặc đất đã bị xói mòn, bạc màu, Nhà nước chậm đầu tư làm cho năng suất, sản lượng cây trồng giảm xuống quá thấp.

b) Các vùng có sự đầu tư của Nhà nước tạo điều kiện cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tạo ra năng suất, sản lượng hàng hoá cao.

c) Các vùng, các xã giáp ranh có điều kiện về đất đai, cơ cấu cây trồng như nhau nhưng hạng đất tính thuế quá chênh lệch nhau, bất hợp lý; việc xác định hạng đất trước đây thiếu chính xác, nhiều hộ nông dân khiếu nại.

Việc điều chỉnh hạng đất tính thuế phải đảm bảo tránh điều chỉnh hạng đất tràn lan, và phải đảm bảo theo quy định, quy trình phân hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp tại Nghị định số 73/CP ngày 25-10-1993 của Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư số 92 TT/LB ngày 10-11-1993 nêu trên.

2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo ngành Thuế các ngành có liên quan, Uỷ ban nhân dân và Hội đồng tư vấn thuế các cấp thực hiện:

a) Ở những xã phải điều chỉnh lại hạng đất tính thuế cần tổ chức phổ biến về quy trình phân hạng đất để nhân dân hiểu và tham gia góp ý kiến; kết quả dự kiến điều chỉnh lại hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp của thôn, ấp phải thông báo và niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã để nhân dân tham gia ý kiến trước khi Uỷ ban nhân dân xã trình Uỷ ban nhân dân huyện và Hội đồng tư vấn thuế huyện xét duỵệt.

b) Sau khi điều chỉnh lại hạng đất, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét duyệt đồng gửi báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính. Hạng đất tính thuế điều chỉnh là cơ sở để tính thuế lập sổ thuế từ khi quyết định lại hạng đất có hiệu lực thi hành.

c) Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về chính sách tài chính - tín dụng "Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền đến năm 2010 cho hộ nông dân". Vì vậy, những nơi ảnh hưởng tới việc xác định số thuế sử dụng đất nông nghiệp, nơi thực cần thiết có nhiều vướng mắc, khiếu nại về hạng đất mà chưa giải quyết được cần phải điều chỉnh cho hợp lý thì điều chỉnh kịp thời trong năm 2002, các trường hợp khác xem xét điều chỉnh dần. Việc điều chỉnh phải tiến hành từng bước thận trọng kết hợp với việc tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp của Thủ tướng Chính phủ để việc xác định lại hạng đất tính thuế thực sự có tác dụng khuyến khích nông dân đoàn két, hăng hái sản xuất đạt hiệu quả ngày càng cao.

 

Vũ Văn Ninh

(Đã ký)

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 4129/TC/TCT của Bộ Tài chính về việc điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp

Số hiệu: 4129/TC/TCT
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 29/04/2002
Nơi ban hành: Bộ Tài chính
Người ký: Vũ Văn Ninh
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 29/04/2002
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Kế toán - Kiểm toán
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 4129/TC/TCT của Bộ Tài chính về việc...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký