Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Công văn 4229/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn chi tiết về việc xác định tình trạng cư trú đối với cá nhân là người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các cơ quan thuế địa phương và người nộp thuế xác định chính xác nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

1. Tiêu chí xác định cá nhân cư trú tại Việt Nam

Theo quy định của pháp luật thuế TNCN, một cá nhân được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:

  • Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam (trong đó ngày đến và ngày đi được tính là 01 ngày).
  • Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp: Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế.

2. Xác định tình trạng cư trú đối với người đi lao động nước ngoài

Đối với trường hợp người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài, việc xác định tình trạng cư trú được thực hiện cụ thể như sau:

  • Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (theo đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc hợp đồng thuê nhà) nhưng thực tế đi làm việc ở nước ngoài và có thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế: Nếu cá nhân chứng minh được mình là đối tượng cư trú của nước nơi đến lao động thì được xác định là cá nhân không cư trú tại Việt Nam.
  • Để chứng minh là đối tượng cư trú của nước nơi đến lao động, cá nhân phải cung cấp Giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế của nước đó cấp. Trường hợp nước đó không cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân có thể cung cấp bản chụp Hộ chiếu chứng minh thời gian cư trú hoặc các giấy tờ chứng minh khác theo quy định.
  • Nếu cá nhân không chứng minh được tình trạng cư trú tại nước đến lao động, cá nhân đó vẫn được xác định là cá nhân cư trú tại Việt Nam và phải thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

3. Áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Trong trường hợp cá nhân vừa được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam, vừa được coi là đối tượng cư trú của nước ký kết Hiệp định theo pháp luật của nước đó, việc xác định trạng thái cư trú sẽ tuân thủ theo các nguyên tắc phân định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nước đó:

  • Cá nhân sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi họ có nhà ở thường trực.
  • Nếu cá nhân có nhà ở thường trực ở cả hai nước hoặc không có nhà ở thường trực ở cả hai nước, cá nhân sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi họ có các quan hệ kinh tế và cá nhân chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi sống).
  • Nếu không thể xác định được nước nơi cá nhân có trung tâm các quyền lợi sống, hoặc nếu cá nhân không có nhà ở thường trực ở cả hai nước, cá nhân sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi họ thường xuyên sống.
  • Nếu cá nhân thường xuyên sống ở cả hai nước hoặc không sống thường xuyên ở nước nào, cá nhân sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước mà cá nhân mang quốc tịch.

4. Nghĩa vụ khai thuế và nộp thuế TNCN tương ứng

Sau khi xác định rõ tình trạng cư trú, nghĩa vụ thuế của người lao động được thực hiện như sau:

  • Đối với cá nhân cư trú: Chịu thuế TNCN đối với thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập. Người lao động phải thực hiện tự khai quyết toán thuế hoặc ủy quyền quyết toán thuế theo quy định.
  • Đối với cá nhân không cư trú: Chỉ chịu thuế TNCN đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi nhận thu nhập.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 4229/TCT-TNCN
V/v xác định tình trạng cư trú của người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài

Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2010

 

Kính gửi: Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh

Văn phòng đại diện Adidas tại Việt Nam có công văn số 0710/adidas ngày 21/07/2010 về việc xác định tình trạng cư trú của người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Tại điểm 1, điểm 2, Mục I, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn: “1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

1.1. Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó, ngày đến được tính là một ngày và ngày đi cũng được tính là một ngày. Ngày đến và ngày đi được xác định căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân đó khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

1.2. Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

a) Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú:

- Đối với công dân Việt Nam: nơi ở đăng ký thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký cư trú theo quy định của Luật cư trú.

- Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên của người nước ngoài là nơi đăng ký và được ghi trong Thẻ thường trú hoặc Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp.

b) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

- Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở được đăng ký thường trú, hoặc không được cấp Thẻ thường trú, Thẻ tạm trú theo hướng dẫn nêu trên, nhưng có tổng số ngày thuê nhà theo hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng thuộc đối tượng là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê ở nhiều nơi.

- Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,… không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.

2. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1 nêu trên.”

- Tại điểm 1, điểm 3 Mục I, Phần A Thông tư số 133/2004/TT-BTC ngày 31/12/2004 hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước có hiệu lực thi hành tại Việt Nam hướng dẫn: “1. Theo Hiệp định, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” là đối tượng mà theo luật của một Nước ký kết là đối tượng chịu thuế tại nước đó do:

1.1. Có nhà ở, có thời gian cư trú tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một cá nhân; hoặc

1.2. Có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một tổ chức…

3. Trường hợp căn cứ vào quy định tại điểm 1.1 và 1.2 trên đây, nếu một đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì căn cứ vào các tiêu thức theo thứ tự ưu tiên dưới đây để xác định đối tượng đó là đối tượng cư trú của Việt Nam.

3.1. Đối với cá nhân:

3.1.1. Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở Việt Nam (nhà thuộc sở hữu hoặc nhà thuê thuộc quyền sử dụng của đối tượng đó) thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.

3.1.2. Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả hai nước nhưng cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như việc làm, có địa điểm kinh doanh, nơi quản lý tài sản cá nhân, hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam như quan hệ gia đình, xã hội (ví dụ: hội viên các đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp…),… thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.

3.1.3. Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở nước nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều hơn trong năm tính thuế thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.

3.1.4. Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt cả ở Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước nhưng cá nhân đó mang quốc tịch Việt Nam thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.

3.1.5. Nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch của cả hai nước thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.”

Căn cứ quy định trên, theo pháp luật Việt Nam những nhân viên Việt Nam ký hợp đồng lao động với Công ty nước ngoài, làm việc ở nước ngoài (chỉ ở Việt Nam dưới 183 ngày) nhưng vẫn duy trì nơi ở đăng ký thường trú tại Việt Nam thuộc đối tượng cá nhân cư trú tại Việt Nam. Trường hợp, nếu các nhân viên người Việt Nam đi làm việc cho Công ty ở nước ngoài là đối tượng cư trú đôi của Việt Nam và của nước ký hiệp định với Việt Nam thì sẽ áp dụng Hiệp định thuế để xác định nơi cư trú duy nhất của các cá nhân đó.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh được biết và tham khảo nội dung trên để hướng dẫn Văn phòng đại diện Adidas tại Việt Nam được biết. Trong quá trình thực hiện nếu còn có vấn đề gì chưa rõ, chưa thỏa đáng đề nghị phản ánh về Tổng cục để được giải đáp./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng đại diện Adidas tại Việt Nam;
- Vụ Pháp chế (TCT(2b));
- Lưu: VT, TNCN (2b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 4229/TCT-TNCN xác định tình trạng cư trú của người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành

Số hiệu: 4229/TCT-TNCN
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 21/10/2010
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
Người ký: Phạm Duy Khương
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 21/10/2010
Tình trạng: ● Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 4229/TCT-TNCN xác định tình trạng cư...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký