Công văn 4521/TCT/CS do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào đối với các doanh nghiệp. Văn bản tập trung giải quyết các vướng mắc liên quan đến điều kiện khấu trừ thuế GTGT, đặc biệt là quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và các trường hợp bù trừ công nợ hợp lệ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có phát sinh các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ cần thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cùng các cơ quan thuế địa phương thực hiện công tác quản lý và thanh tra thuế.
Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định
Tổng cục Thuế nhấn mạnh các nguyên tắc cốt lõi để doanh nghiệp được thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào bao gồm:
- Phải có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu.
- Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng đã bao gồm thuế GTGT.
Hướng dẫn về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Để làm rõ điều kiện thanh toán qua ngân hàng, văn bản hướng dẫn cụ thể các hình thức thanh toán được chấp nhận để khấu trừ thuế:
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có sự chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
- Các trường hợp bù trừ công nợ như bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, hoặc bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải được quy định cụ thể trong hợp đồng bằng văn bản và có biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên liên quan.
- Trường hợp thanh toán ủy quyền cho bên thứ ba qua ngân hàng phải được quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán và bên thứ ba phải là một pháp nhân hoạt động hợp pháp.
Xử lý các trường hợp không đủ điều kiện khấu trừ
Đối với các hóa đơn có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên nhưng không đáp ứng được điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt:
- Doanh nghiệp không được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán hợp lệ qua ngân hàng.
- Các khoản thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ này sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ các trường hợp đặc biệt theo quy định pháp luật hiện hành.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Công văn 4521/TCT/CS có hiệu lực hướng dẫn áp dụng ngay từ ngày ban hành. Tổng cục Thuế yêu cầu cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào hướng dẫn tại văn bản này và tình hình thực tế của doanh nghiệp để hướng dẫn thực hiện thống nhất, đúng quy định pháp luật.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4521/TCT/CS | Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2001 |
CÔNG VĂN
CỦA TỔNG CỤC THUẾ SỐ 4521 TCT/CS NGÀY 9 THÁNG 11 NĂM 2001 VỀ VIỆC KHẤU TRỪ THUẾ GTGT ĐẦU VÀO
Kính gửi: Cục thuế thành phố Đà Nẵng
Trả lời Công văn số 4866/CT-NV ngày 03/10/2001 của Cục thuế Thành phố Đà Nẵng về việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với cây cảnh, cá cảnh..., Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 1.2 (tiết b) Mục III Phần B Thông tư số 122/2000/TT-BCT ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính thì các cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ mua hàng hoá là nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến của người bán không có hoá đơn được lập bảng kê và khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ 2% trên giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê.
Theo quy định trên thì các cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thu mua cây con, cây cảnh, cây xanh, gốc cây, cá cảnh của các đối tượng là hộ nông dân, hộ làm vườn, hộ nuôi trồng cây, cá cảnh hoặc mua của người khai thác không có hoá đơn, được lập bảng kê thu mua hàng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào với tỷ lệ 2% trên giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê.
Tổng cục thuế thông báo để Cục thuế biết và thực hiện.
|
| Phạm Văn Huyến (Đã ký)
|