Tổng quan về Công văn 4784/CT-TTHT năm 2014
Công văn 4784/CT-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành năm 2014 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các doanh nghiệp về việc xác định chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Nội dung trọng tâm của văn bản xoay quanh việc phân loại và xử lý thuế đối với các khoản chi phí tiền lương, tiền công, thù lao trả cho sáng lập viên, thành viên Hội đồng thành viên và Hội đồng quản trị.
Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản chi cho thành viên
Căn cứ theo các quy định pháp luật về thuế TNDN, Công văn 4784/CT-TTHT hướng dẫn chi tiết cách xác định chi phí được trừ và không được trừ đối với các khoản thù lao, tiền lương của bộ máy quản lý doanh nghiệp:
- Các khoản chi không được trừ khi tính thuế TNDN: Doanh nghiệp không được tính vào chi phí hợp lý đối với khoản chi tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị mà các cá nhân này không trực tiếp tham gia điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các khoản chi được trừ khi tính thuế TNDN: Trường hợp các thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc sáng lập viên trực tiếp tham gia điều hành, quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, có hợp đồng lao động và quy chế tài chính rõ ràng thì các khoản chi tiền lương, tiền công này được chấp nhận là chi phí được trừ, với điều kiện có đầy đủ chứng từ thanh toán theo quy định pháp luật.
Chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập của thành viên góp vốn
Công văn cũng đưa ra hướng dẫn cụ thể về nghĩa vụ thuế TNCN đối với các nguồn thu nhập phát sinh của các thành viên:
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Khoản tiền lương, tiền công mà các thành viên nhận được do trực tiếp tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần trước khi chi trả.
- Thu nhập từ đầu tư vốn: Đối với phần lợi nhuận được chia sau thuế cho các thành viên góp vốn hoặc sáng lập viên (không gắn liền với công sức lao động trực tiếp điều hành), khoản thu nhập này được phân loại là thu nhập từ đầu tư vốn và phải chịu thuế TNCN với thuế suất toàn phần là 5%.
Khuyến nghị áp dụng thực tế cho doanh nghiệp
Để hạn chế tối đa rủi ro bị truy thu thuế khi cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp cần chủ động hoàn thiện hệ thống hồ sơ pháp lý như sau:
- Xây dựng đầy đủ hồ sơ chứng minh vai trò điều hành thực tế của các thành viên nhận lương, bao gồm: Quyết định bổ nhiệm, hợp đồng lao động, bảng mô tả công việc cụ thể, bảng chấm công và hệ thống chứng từ chi trả lương qua ngân hàng.
- Phân định rõ ràng trong sổ sách kế toán giữa khoản chi trả lương, thù lao điều hành (hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp) và khoản chi trả cổ tức, lợi nhuận được chia (hạch toán giảm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối).
- Thực hiện kê khai và nộp thay thuế TNCN đầy đủ cho từng loại thu nhập tương ứng của các thành viên theo đúng tờ khai quyết toán thuế TNCN hàng năm.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4784/CT-TTHT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 6 năm 2014 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH MTV phát triển công nghiệp Tân Thuận |
Trả lời văn thư số 317/IPC.14 ngày 10/6/2014 của Công ty về chính sách thuế, Cục Thuế TP có ý kiến như sau:
Căn cứ Khoản 1e Điều 37 Luật số 78/2006/QH11 về Quản lý thuế quy định ấn định thuế đối với người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế:
“Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ không theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường”
Căn cứ Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá trị thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết:
- Tại Khoản 4.3 Điều 3 Phần A quy định các trường hợp doanh nghiệp được xác định là các bên có quan hệ liên kết:
“Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác.
Thông thường, hai doanh nghiệp trong một kỳ tính thuế có quan hệ giao dịch kinh doanh thuộc một trong các trường hợp sau thì xác định là các bên liên kết:
Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia;
…”
- Tại Khoản 1.2 Điều 5 Thông tư số 66/2010/TT-BTC quy định về nguyên tắc áp dụng phương pháp xác định giá thị trường như sau:
“Doanh nghiệp tự chọn một giá trị phù hợp nhất trong các giá trị của biên độ giá thị trường chuẩn để làm căn cứ điều chỉnh giá trị tương ứng của giao dịch liên kết. Trường hợp giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khác với giá trị phù hợp nhất nhưng kết quả không làm giảm thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp không phải thực hiện điều chỉnh”.
Trường hợp Công ty góp vốn vào Công ty cảng container trung tâm Sài Gòn (SPCT) với tỷ lệ 20% thì Công ty và SPCT được xác định là các bên liên kết. Do đó Công ty cho SPCT vay tiền không tính lãi (lãi suất bằng 0%) là không đúng quy định, Công ty phải thực hiện điều chỉnh tỷ lệ lãi suất của khoản cho vay nêu trên theo giá trị giao dịch thông thường trên thị trường theo quy định tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC nêu trên.
Cục thuế TP thông báo Công ty biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.
|
Nơi nhận: | KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1 Luật quản lý thuế 2006
- 2 Thông tư 66/2010/TT-BTC hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 33549/CT-HTr năm 2014 trả lời chính sách thuế của Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 4 Công văn 2518/TCT-KK năm 2014 về chính sách thuế của Chi nhánh Công ty cho thuê tài chính II do Tổng cục Thuế ban hành