Công văn 4876/BTP-HTQTCT do Bộ Tư pháp ban hành năm 2013 nhằm giải quyết các vướng mắc nghiệp vụ phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Văn bản này đưa ra các hướng dẫn cụ thể giúp các địa phương thống nhất áp dụng pháp luật, tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính cho người dân.
- Hướng dẫn về hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ hộ tịch
- Các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp để sử dụng cho việc đăng ký hộ tịch tại Việt Nam bắt buộc phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
- Đối với giấy tờ do Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam cấp cho công dân nước đó, Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể về điều kiện chấp thuận nhằm đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn đảm bảo tính pháp lý.
- Xác nhận tình trạng hôn nhân của người nước ngoài và công dân Việt Nam
- Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài phải là văn bản do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng, xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng.
- Trong trường hợp pháp luật nước ngoài không quy định việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, có thể thay thế bằng giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước họ.
- Đối với công dân Việt Nam đã có thời gian cư trú ở nước ngoài, việc xác minh tình trạng hôn nhân trong thời gian cư trú tại nước ngoài cần được thực hiện chặt chẽ thông qua Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc căn cứ vào cam đoan của đương sự nếu không thể xác minh bằng văn bản.
- Quy trình phỏng vấn và thẩm định hồ sơ đăng ký kết hôn
- Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện phỏng vấn trực tiếp hai bên nam, nữ nhằm làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn và khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung của hai bên.
- Kết quả phỏng vấn phải được lập thành biên bản chi tiết, ghi nhận trung thực ý kiến của các bên để làm cơ sở đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định ký Giấy chứng nhận kết hôn.
- Trường hợp phát hiện có dấu hiệu mua bán người, kết hôn giả tạo nhằm mục đích trục lợi, xuất cảnh trái phép, Sở Tư pháp có quyền từ chối giải quyết hoặc phối hợp với cơ quan công an để xác minh làm rõ.
- Giải quyết hồ sơ trong giai đoạn chuyển tiếp
- Đối với các hồ sơ đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài đã tiếp nhận trước ngày Nghị định 24/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành nhưng chưa giải quyết xong, thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
- Các cơ quan đăng ký hộ tịch địa phương cần chủ động rà soát, phân loại hồ sơ để áp dụng đúng quy định chuyển tiếp, tránh gây phiền hà, chậm trễ cho công dân.
- Yêu cầu về dịch thuật và công chứng giấy tờ
- Các giấy tờ bằng tiếng nước ngoài trong hồ sơ đăng ký hộ tịch phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được công chứng hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.
- Sở Tư pháp cần kiểm tra tính chính xác của bản dịch, đặc biệt là các thông tin nhân thân như họ tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch để tránh sai sót khi ghi vào sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4876/BTP-HTQTCT | Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2013 |
Kính gửi: Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh
Trả lời Công văn số 1857/STP-HT ngày 29/5/2013 của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh xin ý kiến chỉ đạo một số vấn đề vướng mắc liên quan đến quy định của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
và giấy xác nhận đủ điều kiện kết hôn; đối với các nước mà pháp luật không quy định cấp loại giấy xác nhận này thì đương sự chỉ phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; đối với các nước đã có văn bản trao đổi với Bộ Tư pháp về các giấy tờ của công dân nước đó sử dụng trong hồ sơ đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam (như: Anh, Australia, Hàn Quốc - quy định sử dụng Giấy xác nhận không cản trở kết hôn do Đại sứ quán/Tổng lãnh sự quán Anh, Australia, Hàn Quốc tại Việt Nam cấp …) thì đương sự chỉ phải nộp các loại giấy tờ này mà không phải nộp giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân.
Vì pháp luật Hoa Kỳ không quy định cấp giấy xác nhận có đủ điều kiện kết hôn nên đương sự chỉ cần nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân như: Giấy xác nhận tuyên thệ độc thân hoặc Kết quả tra tìm hồ sơ kết hôn hợp lệ mà không phải xin xác nhận của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ như trong Công văn số 1857/STP-HT đã nêu.
Dự kiến, những hướng dẫn về giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn sẽ được đưa vào dự thảo Thông tư của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP (sẽ sớm ban hành trong thời gian tới). Liên quan đến vấn đề này, Bộ Tư pháp đang có văn bản đề nghị Đại sứ quán các nước cung cấp thông tin pháp luật và mẫu giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân của mỗi nước. Bộ Tư pháp sẽ thông báo cho các địa phương sau khi có trả lời của các Đại sứ quán. Trong thời gian chưa có quy định cụ thể, Sở Tư pháp tạm thời vận dụng theo thực tiễn quản lý để xác định trường hợp nào phải có giấy xác nhận đủ điều kiện kết hôn.
2. Về đăng ký nhận cha, mẹ, con
- Hiện nay, Bộ Tư pháp đã xây dựng xong dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung các Thông tư về ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch, trong đó có sửa đổi, bổ sung một số biểu mẫu có liên quan đến Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, đang xin ý kiến của một số cơ quan có liên quan. Trong thời gian Thông tư chưa được ban hành, đối với các hồ sơ nhận cha, mẹ, con tiếp nhận sau ngày 15/5/2013, chưa đến thời hạn trả kết quả theo quy định, Sở Tư pháp chờ để sử dụng biểu mẫu Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con ban hành kèm theo Thông tư nêu trên; đối với những trường hợp đến hạn trao Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con mà chưa có biểu mẫu mới, nếu phía người nước ngoài/công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài không có điều kiện ở lại Việt Nam thì có thể uỷ quyền nhận Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con.
- Về kiến nghị hướng giải quyết hồ sơ nhận cha, mẹ, con nếu một hoặc hai bên chết trong quá trình giải quyết hồ sơ, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu trong quá trình xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP.
Tại khoản 4 Điều 15 Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định: "Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã, Sở Tư pháp thực hiện thẩm tra, xác minh và có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp xã kèm trả hồ sơ; nếu từ chối giải quyết, Sở Tư pháp giải thích rõ lý do bằng văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để thông báo cho người yêu cầu". Dự kiến, những hướng dẫn về nội dung thẩm tra, xác minh sẽ được đưa vào dự thảo Thông tư của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP. Trong thời gian Thông tư chưa được ban hành, Sở Tư pháp tạm thời thực hiện quy định này theo hướng:
- Sở Tư pháp chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã, khi nhận được yêu cầu của công dân Việt Nam về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, cần chủ động kiểm tra kỹ các thông tin về nhân thân, gia đình … của người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận, nêu rõ kết quả kiểm tra trong công văn gửi Sở Tư pháp. Sở Tư pháp xem xét, thẩm tra trên cơ sở văn bản đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp xã và hồ sơ. Nếu thấy cần thiết phải xác minh để làm rõ những nội dung liên quan đến yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Sở Tư pháp tiến hành xác minh trực tiếp tại nơi đương sự cư trú hoặc chỉ đạo Phòng Tư pháp xác minh nếu đương sự ở địa bàn cách xa trụ sở cơ quan.
Nếu kết quả thẩm tra, xác minh của Sở Tư pháp cho thấy tình trạng hôn nhân của đương sự không đúng với thực tế; đương sự không đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam; đương sự sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn giả nhằm mục đích xuất cảnh, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; việc kết hôn nhằm mục đích mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác; kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời, thì Sở Tư pháp có văn bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp xã từ chối việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Dự thảo Thông tư quy định chi tiết thi hành khoản 6 Điều 15 của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP sẽ tăng cường phỏng vấn đối với đương sự có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, nhất là trường hợp kết hôn vắng mặt. Do đó, Sở Tư pháp có thể tiến hành phỏng vấn đối với các bên nam, nữ trên cơ sở cân nhắc từng trường hợp cụ thể, nhằm xác định rõ về nhân thân, mục đích/động cơ kết hôn, mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau.
- Theo quy định tại Mục 2, Chương II, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài đã được Sở Tư pháp thẩm tra, xác minh và phỏng vấn như đã nêu tại điểm 3 Công văn này, do đó các trường hợp kết hôn của công dân Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài mà trước đó phía công dân Việt Nam đã được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Mục 2, Chương II, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, thì về nguyên tắc, có thể xác định phía công dân Việt Nam có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp có nghi ngờ về kết quả giải quyết hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trước đây hoặc đương sự yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân vào thời điểm chưa áp dụng quy định mới tại Mục 2, Chương 2, Nghị định số 24/2013/NĐ-CP thì Sở Tư pháp tiến hành xác minh, làm rõ.
- Về kiến nghị của Sở Tư pháp liên quan đến biểu mẫu Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Bộ Tư pháp đã đưa vào nội dung dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung các Thông tư về ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch.
- Về việc xác định đương sự có thuộc diện phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài khi giải quyết hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn: Hiện nay, Bộ Tư pháp đã thiết kế mẫu Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trong đó có nội dung cam đoan của đương sự về việc ly hôn trước đây (nếu có) hoặc việc chưa từng kết hôn, đó là cơ sở để xác định đương sự có phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 17 Nghị định số 24/2013/NĐ-CP hay không.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tư pháp để Sở Tư pháp triển khai thực hiện./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Công văn 3302/TCHQ-GSQL năm 2014 về văn bản hướng dẫn Nghị định 202/2013/NĐ-CP và 187/2013/NĐ-CP do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2 Công văn 104/BXD-KTXD năm 2014 hướng dẫn Nghị định 112/2009/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng ban hành
- 3 Công văn 9612/VPCP-KGVX năm 2014 về việc văn bản hướng dẫn Nghị định 141/2013/NĐ-CP giáo dục đại học do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1 Nghị định 24/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
- 2 Công văn 3302/TCHQ-GSQL năm 2014 về văn bản hướng dẫn Nghị định 202/2013/NĐ-CP và 187/2013/NĐ-CP do Tổng cục Hải quan ban hành
- 3 Công văn 104/BXD-KTXD năm 2014 hướng dẫn Nghị định 112/2009/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng ban hành
- 4 Công văn 9612/VPCP-KGVX năm 2014 về việc văn bản hướng dẫn Nghị định 141/2013/NĐ-CP giáo dục đại học do Văn phòng Chính phủ ban hành