Giới thiệu chung về Công văn 514/CĐKGDBĐ-QLNV
Công văn 514/CĐKGDBĐ-QLNV do Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm ban hành năm 2014 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc thực tế liên quan đến việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác. Đây là vấn đề pháp lý phát sinh nhiều quan điểm trái chiều giữa các cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất và các tổ chức hành nghề công chứng tại thời điểm đó.
Nội dung hướng dẫn trọng tâm về thế chấp quyền sử dụng đất bảo đảm nghĩa vụ của người khác
Công văn tập trung làm rõ các khía cạnh pháp lý cốt lõi sau đây nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên toàn quốc:
- Bản chất pháp lý của giao dịch: Văn bản xác định rõ việc người sử dụng đất dùng quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của mình để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác thực chất là một dạng giao dịch bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba.
- Sự tương thích giữa Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai: Mặc dù Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành có những quy định chưa đồng bộ về thuật ngữ "thế chấp" và "bảo lãnh" bằng quyền sử dụng đất, Công văn đã định hướng áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết. Theo đó, việc thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác vẫn được thừa nhận và đăng ký hợp pháp.
- Thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm: Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm hướng dẫn các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không được từ chối đăng ký đối với các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của người khác, miễn là hợp đồng đó được công chứng, chứng thực theo đúng quy định pháp luật.
Ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động tín dụng và đăng ký giao dịch bảo đảm
Việc ban hành Công văn 514/CĐKGDBĐ-QLNV mang lại nhiều giá trị thực tiễn quan trọng cho hệ thống pháp luật và hoạt động ngân hàng:
- Tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng: Giúp các tổ chức tín dụng yên tâm nhận thế chấp tài sản của bên thứ ba (như trường hợp cha mẹ thế chấp đất cho con vay vốn, hoặc doanh nghiệp mượn tài sản của cá nhân), từ đó khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế.
- Thống nhất nghiệp vụ đăng ký: Chấm dứt tình trạng mỗi địa phương áp dụng một kiểu, nơi thì cho đăng ký dưới dạng hợp đồng bảo lãnh, nơi thì yêu cầu hợp đồng thế chấp, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên: Đảm bảo hiệu lực pháp lý của hợp đồng thế chấp khi có tranh chấp xảy ra, giúp tòa án có cơ sở vững chắc để giải quyết các vụ án liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của bên thứ ba.
Lưu ý: Nội dung tóm tắt trên phản ánh các hướng dẫn nghiệp vụ cốt lõi của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm tại thời điểm ban hành Công văn 514/CĐKGDBĐ-QLNV năm 2014 nhằm giải quyết xung đột pháp lý giữa Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự thời kỳ đó.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 514/CĐKGDBĐ-QLNV | Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014 |
| Kính gửi: | - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang, |
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm nhận được phản ánh của một số tổ chức tín dụng về việc các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã từ chối đăng ký thế chấp đối với trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm cho người khác (bên thứ ba) vay vốn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Về vấn đề này, Cục Đăng ký có ý kiến như sau:
1. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về thế chấp tài sản và bảo lãnh
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” (Điều 361) và “thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” (khoản 1 Điều 342).
Các quy định nêu trên của Bộ luật Dân sự năm 2005 cho thấy, nếu như bảo lãnh chỉ là cam kết thực hiện nghĩa vụ thay (không dùng tài sản), thì thế chấp là việc dùng tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ đó có thể là nghĩa vụ của chính mình hoặc của người khác).
2. Thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ của chính mình hoặc để bảo đảm nghĩa vụ của người khác
Theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất chỉ có quyền thế chấp quyền sử dụng đất, mà không có quyền bảo lãnh. Trong khi đó, trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm đã quy định bên thế chấp (người sử dụng đất) được dùng “quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác”. Mặt khác, qua rà soát cho thấy, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn không quy định người sử dụng đất chỉ được quyền thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính mình, mà không được thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của người khác (bên thứ ba). Do vậy, việc một số Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang từ chối đăng ký thế chấp đối với trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm cho người khác (bên thứ ba) vay vốn là không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về các trường hợp từ chối đăng ký của Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, các quy định có liên quan của pháp luật về đất đai, pháp luật về giao dịch bảo đảm, từ đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cũng như sự ổn định trong hoạt động cho vay có bảo đảm của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Từ những phân tích trên, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đề nghị Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang phối hợp chỉ đạo, đôn đốc các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tiếp nhận, giải quyết hồ sơ yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác (bên thứ ba) vay vốn theo thủ tục chung đã được pháp luật quy định.
Trên đây là ý kiến của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm về việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác, đề nghị Quý Sở nghiên cứu, thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn số 187/NHNN-PC về việc vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư 05 về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2 Công văn 2972/VPCP-KTN về thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do Văn phòng Chính phủ
- 3 Công văn 1407/TCQLĐĐ-CSPC năm 2014 trả lời Công văn 941/STNMT-VPĐK về xin ý kiến giải quyết đề nghị đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba vay vốn do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 4 Công văn 967/BTNMT-TCQLĐĐ năm 2016 về thế chấp bằng quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 1 Bộ luật Dân sự 2005
- 2 Công văn số 187/NHNN-PC về việc vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư 05 về đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 3 Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm
- 4 Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
- 5 Công văn 2972/VPCP-KTN về thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do Văn phòng Chính phủ
- 6 Luật đất đai 2013
- 7 Công văn 1407/TCQLĐĐ-CSPC năm 2014 trả lời Công văn 941/STNMT-VPĐK về xin ý kiến giải quyết đề nghị đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba vay vốn do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 8 Công văn 967/BTNMT-TCQLĐĐ năm 2016 về thế chấp bằng quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành