Công văn 600/TCT/NV7 do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về việc giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ tài chính liên quan đến việc hoàn trả hoặc khấu trừ tiền sử dụng đất khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất và đền bù thiệt hại về đất cho người sử dụng đất.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất nhưng sau đó bị thu hồi đất vì các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc phát triển kinh tế. Đồng thời, văn bản cũng hướng dẫn cơ quan thuế các cấp trong việc phối hợp với các cơ quan chức năng để xác định nghĩa vụ tài chính và thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng.
Nguyên tắc xử lý tiền sử dụng đất khi thu hồi đất
- Khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền sử dụng đất sẽ được xem xét đền bù thiệt hại về đất theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành.
- Khoản tiền sử dụng đất đã nộp trước đó là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định mức độ đền bù, hỗ trợ hoặc hoàn trả tài chính cho người bị thu hồi đất.
- Việc đền bù phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, đúng đối tượng và không làm thất thoát ngân sách nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.
Phương thức đền bù và khấu trừ nghĩa vụ tài chính
- Trường hợp đền bù bằng đất mới: Người sử dụng đất được giao đất mới có cùng mục đích sử dụng sẽ được khấu trừ giá trị quyền sử dụng đất đã nộp của khu đất cũ vào khu đất mới. Nếu có chênh lệch về giá trị, người sử dụng đất phải nộp thêm hoặc được hoàn trả phần chênh lệch theo quy định.
- Trường hợp đền bù bằng tiền: Giá trị đền bù được tính toán dựa trên bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất. Khoản tiền sử dụng đất đã nộp trước đây (nếu có chứng từ hợp lệ) sẽ được tính toán để hoàn trả hoặc cộng gộp vào giá trị đền bù thiệt hại về đất.
Quy trình phối hợp và hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính
- Cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường, Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng để đối chiếu, xác nhận số tiền sử dụng đất thực tế mà người sử dụng đất đã nộp vào ngân sách nhà nước.
- Người sử dụng đất có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ các chứng từ, hóa đơn nộp tiền sử dụng đất, quyết định giao đất ban đầu và các giấy tờ liên quan để làm cơ sở đối chiếu.
- Mọi khoản khấu trừ hoặc hoàn trả tiền sử dụng đất phải được thể hiện chi tiết, minh bạch trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện chi trả.
Hiệu lực thi hành
Công văn 600/TCT/NV7 có hiệu lực áp dụng đối với các hồ sơ thu hồi đất và đền bù giải phóng mặt bằng phát sinh trong thời kỳ hiệu lực của văn bản. Các hướng dẫn tại công văn này được thực hiện thống nhất tại các cơ quan thuế địa phương nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong công tác quản lý thuế và đất đai trên cả nước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 600/TCT/NV7 | Hà Nội, ngày 31 tháng 1 năm 2002 |
CÔNG VĂN
CỦA TỔNG CỤC THUẾ - BỘ TÀI CHÍNH SỐ 600 TCT/NV7 NGÀY 31 THÁNG 01 NĂM 2002 VỀ VIỆC TRỪ TIỀN SDĐ KHI THU HỒI PHẢI ĐỀN BÙ THIỆT HẠI VỀ ĐẤT
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
Trả lời công văn số 11/CTBN ngày 08/01/2002 của Cục thuế tỉnh Bắc Ninh về việc tính trừ tiền sử dụng đất khi người được giao đất phải đền bù thiệt hại về đất cho người có đất bị thu hồi; Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 1, mục 1, phần B, Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 11/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 38/2000/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất thì người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất (thuộc diện phải nộp tiền sử dụng đất) mà phải đền bù thiệt hại về đất cho người có đất bị thu hồi, khi nộp tiền sử dụng đất sẽ được trừ số tiền thực tế đã đền bù thiệt hại về đất cho người có đất bị thu hồi.
1. Căn cứ để xác định số tiền sử dụng đất được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp ngân sách nhà nước là số tiền thực tế đền bù thiệt haị về đất cho người có đất bị thu hồi. Việc xác định tiền đền bù thiệt hại về đất được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; Mức trừ tối đa không quá 90% tiền sử dụng đất phải nộp Ngân sách Nhà nước.
2. Số tiền thực tế nộp vào ngân sách nhà nước là số tiền được tính theo diện tích đất được giao nhân (x) với giá đất theo bảng giá đất của UBND tỉnh, thành phố ban hành trừ (-) đi số tiền thực tế đã trả đền bù thiệt hại về đất cho người có đất bị thu hồi và được trừ ngay số tiền này trên tờ khai nộp tiền sử dụng đất, nên sẽ không còn có thanh toán, quyết toán khoản chênh lệch.
3. Theo quy định của Thông tư số 115/2000/TT-BTC thì cơ quan thuế có trách nhiệm tính và thu tiền sử dụng đất, đồng thời tính trừ số tiền đền bù thiệt hại về đất được cơ quan có thẩm quyền xác định. Trường hợp có vướng mắc, cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan có liên quan để xử lý.
4. Đối với trường hợp được giao đất phải đền bù thiệt hại về đất mà người giao đất là đối tượng được giảm tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất sau khi thực hiện đền bù thiệt hại về đất cho người có đất bị thu hồi, số tiền sử dụng đất còn lại phải nộp ngân sách nhà nước, sẽ được giảm tiền sử dụng đất theo quy định.
Tổng cục thuế thông báo để Cục thuế tỉnh Bắc Ninh biết và thực hiện.
|
| Phạm Văn Huyến (Đã ký)
|
- 1 Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước nước thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- 2 Nghị định 38/2000/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất
- 3 Thông tư 115/2000/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 38/2000/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất do Bộ tài chính ban hành