- Tổng quan về Công văn 6087/TCT-KK năm 2024
Công văn 6087/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn và chỉ đạo Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu ngân sách nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Văn bản tập trung giải quyết các bất cập trong việc kê khai, nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân trên phạm vi cả nước.
- Rà soát và quản lý đối tượng thu nộp
- Nắm bắt danh sách doanh nghiệp: Cơ quan thuế thực hiện rà soát toàn bộ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân được cấp phép hoạt động khoáng sản trên địa bàn quản lý, bao gồm cả các giấy phép do Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc UBND cấp tỉnh cấp.
- Khảo sát thực địa: Tổ chức kiểm tra, nắm bắt tình hình hoạt động thực tế của các mỏ (đang khai thác, tạm dừng, hoặc đã đóng cửa mỏ) để cập nhật kịp thời vào hệ thống quản lý thuế.
- Kiểm tra, đối chiếu số liệu kê khai thuế và phí
- Đối chiếu sản lượng khai thác: Thực hiện đối chiếu số liệu sản lượng khoáng sản kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường với dữ liệu báo cáo định kỳ gửi cơ quan quản lý tài nguyên môi trường và sản lượng được cấp phép.
- Kiểm soát giá tính thuế: Kiểm tra việc áp dụng giá tính thuế tài nguyên và mức phí bảo vệ môi trường, đảm bảo áp dụng đúng bảng giá do UBND cấp tỉnh quy định và phù hợp với giá thị trường.
- Xác định tiền cấp quyền khai thác: Rà soát việc thực hiện nghĩa vụ nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo các quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, đôn đốc thu nộp đúng thời hạn quy định.
- Tăng cường phối hợp liên ngành
- Trao đổi thông tin với Sở Tài nguyên và Môi trường: Chủ động phối hợp chia sẻ dữ liệu về trữ lượng cấp phép, sản lượng khai thác thực tế, thông tin về trạm cân, camera giám sát lắp đặt tại mỏ.
- Phối hợp với cơ quan Công an và Quản lý thị trường: Tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý các hành vi vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, gian lận số lượng nhằm trốn thuế.
- Biện pháp xử lý vi phạm và đôn đốc thu nợ
- Xử lý vi phạm kê khai: Trường hợp phát hiện người nộp thuế kê khai không đầy đủ, không chính xác sản lượng khai thác thực tế, cơ quan thuế sẽ thực hiện ấn định thuế và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
- Đôn đốc và cưỡng chế nợ thuế: Áp dụng quyết liệt các biện pháp cưỡng chế nợ thuế đối với các đơn vị cố tình nợ đọng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường kéo dài.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6087/TCT-KK | Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2024 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng
Trả lời Công văn số 2867/CTLDO-KK ngày 22/5/2024 và Công văn số 4964/CTLĐO-KK ngày 10/9/2024 của Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng về việc quản lý kê khai nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường (sau đây gọi là phí BVMT), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ pháp lý:
- Điều 3 Luật Thuế tài nguyên ngày 25/11/2009.
- Khoản 6 Điều 5 Thông tư số 152/2015/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên.
- Điều 4 và khoản 2 Điều 8 Nghị định số 27/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 của Chính phủ quy định phí BVMT đối với khai thác khoáng sản.
- Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 (bao gồm cả Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ và Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính).
- Giấy phép khai thác khoáng sản mẫu số 24, Giấy phép khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) mẫu số 26, Giấy phép khai thác khoáng sản ở khu vực có dự án đầu tư xây dựng công trình mẫu số 26, Bản xác nhận khu vực khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường mẫu số 27 ban hành kèm theo Thông tư số 45/2016/TT-BTNMT ngày 26/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đề án thăm dò khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng sản và mẫu báo cáo kết quả hoạt động khoáng sản; mẫu văn bản trong hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản, hồ sơ phê duyệt trữ lượng khoáng sản; trình tự, thủ tục đóng cửa mỏ khoáng sản.
- Quyết định phê duyệt (hoặc điều chỉnh) tiền CQKTKS (tên mỏ) mẫu số 01 và mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị định số 67/2019/NĐ-CP ngày 31/7/2019 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền CQKTKS.
- Điểm đ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13.
- Điểm q khoản 3 Điều 4 Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (bao gồm cả điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước và khoáng sản, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ).
Căn cứ các quy định nêu trên:
1. Tổng cục Thuế ghi nhận ý kiến của Cục Thuế về việc cảnh báo trên ứng dụng Bản đồ số mỏ khoáng sản đối với trường hợp người nộp thuế khai thác khoáng sản khi chưa được cấp phép/trong giai đoạn bị đình chỉ khai thác; người nộp thuế khai thác khoáng sản khác loại được cấp phép; người nộp thuế khai thác khoáng sản vượt công suất được phép khai thác.
Thông tin quản lý thuế liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản của ngành Thuế không có các thông tin liên quan đến thiết kế mỏ, mục đích sử dụng khoáng sản khai thác (các thông tin này không có trong các tài liệu mà cơ quan có thẩm quyền phải gửi đến cơ quan thuế) và một số thông tin vi phạm chỉ có thể phát hiện qua phối hợp với các cơ quan liên quan nên không thể cảnh báo tự động.
Trường hợp qua công tác quản lý thuế, công tác phối hợp với cơ quan TNMT và các cơ quan khác liên quan xác định người nộp thuế vi phạm các quy định về khai thác khoáng sản, cơ quan thuế chủ động đề nghị cơ quan Tài nguyên và môi trường cũng như các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật liên quan.
2. Liên quan đến xử lý thuế tài nguyên, phí BVMT mà người nộp thuế đã khai nộp theo quy định do thực hiện hành vi vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên và khoáng sản vào ngân sách nhà nước: Pháp luật hiện hành không quy định việc hoàn trả tiền thuế, phí đã nộp vào ngân sách nhà nước do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, vì vậy cơ quan thuế không có cơ sở hoàn trả đối với số tiền thuế, phí đã nộp này cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |