Công văn 6428/TCHQ-TXNK do Tổng cục Hải quan ban hành hướng dẫn về chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nhằm thống nhất thực hiện trong toàn ngành hải quan, đảm bảo công tác quản lý thuế và áp dụng chính sách thuế chính xác, minh bạch.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, các chi cục hải quan trực thuộc và các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phát sinh nghĩa vụ thanh toán qua ngân hàng để phục vụ cho việc hoàn thuế, miễn thuế hoặc xác định trị giá hải quan.
Quy định về tính hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ việc chuyển tiền từ tài khoản của người mua (hoặc người nhập khẩu) sang tài khoản của người bán (hoặc người xuất khẩu) theo đúng thông tin trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại.
- Tên, số tài khoản của bên thanh toán và bên thụ hưởng phải trùng khớp với các thông tin ghi nhận trên hồ sơ hải quan và hợp đồng ngoại thương đã đăng ký.
- Chứng từ phải có đầy đủ chữ ký, con dấu xác nhận của ngân hàng phục vụ người thanh toán hoặc ngân hàng phục vụ người thụ hưởng theo quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng.
Xử lý các trường hợp thanh toán đặc thù
- Thanh toán qua bên thứ ba: Trường hợp thanh toán thông qua bên thứ ba, việc thanh toán phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán hoặc phụ lục hợp đồng thương mại. Đồng thời, chứng từ thanh toán phải thể hiện rõ mối quan hệ giữa các bên và việc chuyển tiền hợp pháp qua ngân hàng.
- Bù trừ công nợ: Đối với phương thức thanh toán bù trừ công nợ giữa hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu hoặc bù trừ dịch vụ, doanh nghiệp phải xuất trình đầy đủ văn bản thỏa thuận bù trừ công nợ, chứng từ thanh toán phần chênh lệch qua ngân hàng (nếu có) và các chứng từ liên quan khác để cơ quan hải quan kiểm tra, đối chiếu.
- Thanh toán nhiều lần hoặc thanh toán gộp: Trường hợp một chứng từ thanh toán cho nhiều tờ khai hải quan hoặc nhiều hợp đồng khác nhau, doanh nghiệp phải lập bảng kê chi tiết kèm theo, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của bảng kê và số tiền đã thanh toán cho từng lô hàng cụ thể.
Trách nhiệm của cơ quan hải quan và doanh nghiệp
- Đối với cơ quan hải quan: Công chức hải quan có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối chiếu với hồ sơ hải quan. Trong trường hợp có nghi ngờ về tính trung thực của chứng từ, cơ quan hải quan tiến hành xác minh tại ngân hàng thương mại liên quan hoặc yêu cầu doanh nghiệp giải trình làm rõ.
- Đối với doanh nghiệp: Doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các chứng từ thanh toán qua ngân hàng khi có yêu cầu của cơ quan hải quan. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, hợp pháp của các chứng từ, tài liệu đã xuất trình.
Hiệu lực thi hành
Công văn 6428/TCHQ-TXNK có hiệu lực hướng dẫn thực hiện ngay từ ngày ban hành. Các quy định trong công văn này được áp dụng thống nhất tại các đơn vị hải quan địa phương nhằm tháo gỡ vướng mắc, tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan hàng hóa của doanh nghiệp, đồng thời ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại qua giá và thuế.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6428/TCHQ-TXNK | Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2010 |
Kính gửi: Vụ chính sách Thuế (Bộ Tài chính)
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 13919/BTC-CST ngày 15/10/2010 của Bộ Tài chính đề nghị tham gia ý kiến dự thảo văn bản hướng dẫn xử lý vướng mắc chứng từ thanh toán qua ngân hàng khi hoàn thuế GTGT. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Đối với trường hợp bên nước ngoài mất khả năng thanh toán.
- Theo Tổng cục Hải quan “bên nước ngoài mất khả năng thanh toán” có nhiều trường hợp xảy ra: phá sản, bỏ trốn, giải thể …, cũng được hiểu là mất khả năng thanh toán. Như vậy quy định hồ sơ phải có “Bản sao tờ khai hải quan hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam đã đăng ký với cơ quan hải quan tại nước nhập khẩu hàng hóa, có xác nhận sao y bản chính của cơ quan hải quan nước nhập khẩu hàng hóa hoặc của cơ quan công chứng có thẩm quyền của nước nhập khẩu” tại dự thảo chỉ phù hợp với trường hợp doanh nghiệp nước ngoài mất khả năng thanh toán nhưng vẫn còn hoạt động. Không áp dụng đối với trường hợp bên nước ngoài mất khả năng thanh toán do giải thể, phá sản, bỏ trốn … vì trường hợp này doanh nghiệp Việt Nam không thể tìm ra được doanh nghiệp nước ngoài để yêu cầu cung cấp bản sao tờ khai hải quan hoặc các thông số liên quan đến tờ khai hải quan. Do đó, đề nghị Vụ Chính sách thuế cần hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp này để tránh hiểu lầm.
Trường hợp này có thể giải quyết theo quy định tại điểm 4.11 Phụ lục I Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính như sau: Các trường hợp người mua không thanh toán được tiền hàng do phá sản, bỏ trốn …nên người xuất khẩu không cung cấp được chứng từ thanh toán cho cơ quan hải quan thì người xuất khẩu có văn bản giải trình rõ lý do kèm theo văn bản chứng minh sự việc đã giải trình và phải cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về giải trình trên.
- “Đơn khởi kiện đến tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền tại nước nơi người mua cư trú kèm giấy thông báo hoặc giấy tờ có tính chất xác nhận của cơ quan này về việc thụ lý đơn khởi kiện; hoặc phán quyết thắng kiện của tòa án cho cơ sở kinh doanh (nếu có)”.
Trường hợp này tính khả thi không cao do việc khởi kiện hoặc theo đuổi kiện tụng chi phí ở nước ngoài rất tốn kém, doanh nghiệp Việt Nam lại không thông thạo Luật pháp cũng như ngôn ngữ của nước ngoài nên việc theo đuổi vụ kiện rất khó khăn, do vậy cần hướng dẫn bổ sung thêm trường hợp doanh nghiệp Việt Nam không khởi kiện thì xử lý như thế nào?
2. “Đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu không đảm bảo chất lượng phải tiêu hủy: Biên bản tiêu hủy (hoặc giấy tờ xác nhận việc tiêu hủy) hàng hóa ở nước ngoài …”. Trường hợp này, Tổng cục Hải quan thống nhất với quan điểm xử lý của Vụ Chính sách thuế.
3. Đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu bị tổn thất
Đề nghị bổ sung như sau: Chứng từ thanh toán qua ngân hàng về tiền bồi thường hàng hóa xuất khẩu bị tổn thất ngoài biên giới Việt Nam (đối với trường hợp đã nhận được đầy đủ tiền thanh toán của nước ngoài). Trường hợp chưa thanh toán tiền hàng thì có thỏa thuận giảm tiền cho phía nước ngoài do tổn thất hàng của Việt Nam với nước ngoài.
4. Theo quy định tại Điều 116, 117, 118, 119, 120 Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính, thì: hồ sơ để hoàn thuế nhập khẩu bao gồm có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Do đó, để hoàn thuế nhập khẩu và thuế GTGT đều phải sử dụng chung một chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Vì vậy, đề nghị Vụ Chính sách thuế trình Bộ thống nhất áp dụng chung về chứng từ, giấy tờ có xác nhận của bên thứ ba để thay thế chứng từ thanh toán qua ngân hàng cho cả hoàn thuế nhập khẩu và GTGT đối với các trường hợp nêu trên.
Kính chuyển Vụ Chính sách thuế tổng hợp./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Thông tư 79/2009/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 4149/TCT-CS về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 3069/TCT-KK xác định chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành