Tổng quan về Công văn 7555/CT-TTHT năm 2014
Công văn 7555/CT-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thuế quan trọng liên quan đến Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Nội dung trọng tâm của công văn tập trung vào việc hướng dẫn các doanh nghiệp xác định chi phí được trừ đối với các khoản chi mua vé máy bay qua mạng (vé điện tử) cho người lao động đi công tác, đảm bảo tính tuân thủ theo quy định pháp luật thuế hiện hành.
Các điều kiện để chi phí mua vé máy bay điện tử được tính vào chi phí được trừ
Theo hướng dẫn tại Công văn 7555/CT-TTHT và các quy định pháp luật về thuế TNDN liên quan, để khoản chi phí mua vé máy bay qua tàu bay (mua qua mạng) cho người lao động đi công tác được tính vào chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN, doanh nghiệp cần phải đáp ứng đầy đủ các hồ sơ, chứng từ sau:
- Vé máy bay điện tử: Doanh nghiệp phải xuất trình được thẻ lên máy bay (boarding pass) kèm theo vé máy bay điện tử hợp lệ.
- Chứng từ thanh toán: Phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp có cá nhân tham gia hành trình bay. Trường hợp doanh nghiệp ủy quyền cho cá nhân thanh toán bằng thẻ cá nhân sau đó thanh toán lại cho cá nhân thì phải tuân thủ đúng quy chế tài chính của doanh nghiệp.
- Hồ sơ cử đi công tác: Quyết định cử đi công tác của cơ quan, doanh nghiệp có thẩm quyền ký duyệt, nêu rõ mục đích chuyến đi liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Hướng dẫn xử lý đối với trường hợp mất thẻ lên máy bay (Boarding Pass)
Một trong những vướng mắc phổ biến của doanh nghiệp là việc người lao động làm mất thẻ lên máy bay sau chuyến đi. Công văn đã làm rõ phương án xử lý nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp:
- Nếu người lao động làm mất thẻ lên máy bay nhưng doanh nghiệp vẫn cung cấp đầy đủ vé máy bay điện tử, quyết định cử đi công tác và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng quy định thì khoản chi phí này vẫn được xem xét chấp nhận là chi phí được trừ.
- Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chân thật, chính xác của các hồ sơ, chứng từ chứng minh chuyến đi công tác là có thật và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyên tắc chung về xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN
Bên cạnh hướng dẫn cụ thể về vé máy bay, công văn cũng nhắc lại các nguyên tắc cốt lõi để một khoản chi được ghi nhận là chi phí hợp lý được trừ bao gồm:
- Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Ý nghĩa pháp lý và lưu ý đối với doanh nghiệp
Công văn 7555/CT-TTHT mang tính chất hướng dẫn thực tế cao, giúp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc quyết toán thuế TNDN đối với các chi phí công tác phí phát sinh thường xuyên. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng quy chế tài chính nội bộ rõ ràng, quy định cụ thể về quy trình tạm ứng, thanh toán và các chứng từ bắt buộc đối với chi phí đi lại bằng máy bay để tránh rủi ro bị cơ quan thuế loại trừ chi phí khi thanh tra, kiểm tra thuế.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 7555/CT-TTHT | TP.Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 9 năm 2014 |
| Kính gửi: | Công ty Cổ Phần Dược Pha Nam |
Trả lời văn bản số 20/CV – PhaNam/2014 ngày 29/7/2014 của Công ty về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Cục Thuế TP có ý kiến như sau:
Căn cứ Khoản 2.5 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN quy định các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN:
“Chi tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật.
b) Các khoản tiền lương, tiền thưởng cho người lao động không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.
…”.
Về nguyên tắc các khoản trợ cấp cho người lao động phù hợp với pháp luật lao động được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại hợp đồng lao động được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Khoản trợ cấp thâm niên được chi trả cho người lao động khi nghỉ việc như Công ty nêu tại văn thư 20/CV – PhaNam/2014 nêu trên có phù hợp với pháp luật lao động đề nghị Công ty có văn bản gửi cơ quan chức năng (Sở Lao Động) để được xem xét hướng dẫn theo thẩm quyền.
Cục Thuế TP thông báo Công ty biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.
|
Nơi nhận: | KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 50483/CT-HTr năm 2014 trả lời chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp hoạt động nhận chuyển nhượng tài sản trên đất thuê do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 2 Công văn 6965/CT-TTHT năm 2014 về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- 3 Công văn 54031/CT-HTr năm 2014 về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 1 Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 50483/CT-HTr năm 2014 trả lời chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp hoạt động nhận chuyển nhượng tài sản trên đất thuê do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 3 Công văn 6965/CT-TTHT năm 2014 về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- 4 Công văn 54031/CT-HTr năm 2014 về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp do Cục thuế thành phố Hà Nội ban hành