Công văn 7640/TC/TCT do Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) và phương pháp hạch toán chi phí đối với vỏ bình ga (LPG). Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các doanh nghiệp kinh doanh khí hóa lỏng thực hiện đúng quy định pháp luật về thuế và kế toán đối với công cụ chứa đựng có tính chất luân chuyển đặc thù này.
- Quy định về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với vỏ bình ga- Tiền đặt cọc, ký cược vỏ bình ga: Khoản tiền mà doanh nghiệp kinh doanh ga nhận từ khách hàng hoặc các đại lý để đặt cọc, ký cược nhằm bảo đảm việc trả lại vỏ bình ga không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Doanh nghiệp không phải lập hóa đơn GTGT đối với khoản tiền nhận ký cược này mà chỉ lập chứng từ thu tiền theo quy định.
- Xử lý khi mất vỏ bình hoặc không thu hồi được vỏ: Trường hợp khách hàng làm mất vỏ bình ga hoặc không trả lại vỏ bình, dẫn đến việc doanh nghiệp không phải trả lại tiền ký cược, khoản tiền này được xác định là doanh thu từ việc thanh lý, bán vỏ bình ga. Doanh nghiệp phải lập hóa đơn GTGT, tính và nộp thuế GTGT theo thuế suất quy định đối với hoạt động bán vỏ bình ga tại thời điểm xác định mất vỏ bình.
- Thuế GTGT đối với dịch vụ cho thuê vỏ bình: Trường hợp doanh nghiệp phát sinh hoạt động cho thuê vỏ bình ga và thu phí thuê vỏ bình định kỳ từ khách hàng, khoản phí này được xác định là doanh thu cung ứng dịch vụ và phải chịu thuế GTGT theo quy định hiện hành.
- Phân loại vỏ bình ga trong kế toán: Vỏ bình ga tùy thuộc vào giá trị và thời gian sử dụng thực tế sẽ được phân loại là tài sản cố định (TSCĐ) hoặc công cụ, dụng cụ (CCDC). Doanh nghiệp cần căn cứ vào các tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định theo chế độ kế toán hiện hành để thực hiện phân loại chính xác.
- Trích khấu hao và phân bổ chi phí: Đối với vỏ bình ga đủ điều kiện là tài sản cố định, doanh nghiệp thực hiện trích khấu hao theo quy định về quản lý và trích khấu hao TSCĐ. Đối với vỏ bình ga là công cụ, dụng cụ, chi phí mua vỏ bình được phân bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ theo thời gian sử dụng thực tế nhưng không quá thời hạn tối đa theo quy định pháp luật về thuế.
- Hạch toán khoản tiền ký cược vỏ bình: Khoản tiền nhận ký cược từ khách hàng được hạch toán vào tài khoản nợ phải trả (phải trả, phải nộp khác). Khi khách hàng hoàn trả vỏ bình, doanh nghiệp hoàn trả lại tiền cọc và ghi giảm khoản nợ này. Nếu phát sinh mất vỏ bình, khoản tiền cược được ghi nhận vào thu nhập khác hoặc doanh thu bán hàng tương ứng để bù đắp giá trị vỏ bình đã mất.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp: Doanh nghiệp kinh doanh ga có trách nhiệm mở sổ sách kế toán chi tiết để theo dõi chặt chẽ số lượng vỏ bình ga xuất kho, luân chuyển, số lượng vỏ bình đang ở các đại lý, hộ tiêu dùng và số lượng vỏ bình thu hồi về nhằm làm cơ sở giải trình khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra.
- Trách nhiệm của cơ quan thuế: Cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT và hạch toán chi phí đối với vỏ bình ga của doanh nghiệp, đảm bảo tính đúng, tính đủ và ngăn ngừa các hành vi gian lận thuế liên quan đến việc ký cược vỏ bình.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 7640/TC/TCT | Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2005 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 7640 TC/TCT NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2005 VỀ VIỆC THUẾ GTGT VÀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ ĐỐI VỚI VỎ BÌNH GA
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Bộ Tài chính nhận được văn bản của một số doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ga (khí đốt) đề nghị hướng dẫn xử lý về chi phí vỏ bình ga và tiền đặt cọc vỏ bình ga. Về vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thống nhất như sau:
1. Thuế GTGT áp dụng đối với vỏ bình ga:
- Trường hợp bán vỏ bình ga: các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ga và các cơ sở kinh doanh vỏ bình ga khi thực hiện bán vỏ bình ga phải xuất hóa đơn GTGT, tính thuế GTGT, kê khai và nộp thuế đối với vỏ bình ga bán ra như các loại hàng hóa khác.
- Trường hợp cho thuê vỏ bình ga: các đơn vị kinh doanh bán ra nhưng thực hiện phương thức cho khách hàng thuê vỏ bình ga, phải có hợp đồng cụ thể giữa bên cho thuê và bên thuê, trong đó quy định cụ thể các điều khoản: thời gian cho thuê, số lượng vỏ bình ga cho thuê, giá trị, tiền đặt cọc, tiền phải trả định kỳ về thuê vỏ bình ga.... thì số tiền thuê được từ việc cho thuê vỏ bình ga, đơn vị phải hạch toán vào doanh thu và phải nộp thuế GTGT đối với doanh thu này. Trường hợp số tiền thuê vỏ bình ga được tính trừ vào số tiền đặt cọc vỏ bình ga thì bên cho thuê vẫn phải kê khai và nộp thuế GTGT đối với doanh thu từ hoạt động cho thuê vỏ bình ga. Khoản tiền đặt cọc từ việc cho thuê vỏ bình phải theo dõi riêng, không tính vào doanh thu hay thu nhập.
- Ngoài các trường hợp bán vỏ bình ga và cho thuê nói trên, các trường hợp kinh doanh dưới hình thức khác như cho thuê, cho mượn nhưng không thu tiền đặt cọc mà thu một lần dưới mọi hình thức (đặt cược, bán bình ga lần đầu tính cả tiền bình) thì xác định doanh thu và chi phí để tính thuế TNDN như sau: khi các công ty sản xuất và kinh doanh ga, các đại lý bán ga (đơn vị sở hữu vỏ bình ga) nhận tiền ký cược, đặt cọc vỏ bình ga của khách hàng, các đơn vị phải hạch toán khoản tiền ký cược, đặt cọc vỏ bình ga vào tài khoản theo dõi tiền đặt cọc. Khi tiến hành phân bổ chi phí (theo hướng dẫn tại điểm 2 của Công văn này), đơn vị phải kết chuyển tỷ lệ tương ứng từ khoản tiền đặt cọc vào doanh thu khi xác định thuế TNDN. Khi thanh lý hợp đồng cho mượn vỏ bình ga, sau khi trừ đi các chi phí phát sinh, đơn vị sở hữu vỏ bình ga hạch toán khoản tiền thu được (hoặc phải trả) từ việc cho mượn vỏ bình vào thu nhập (hoặc chi phí phát sinh trong kỳ) khi xác định thuế TNDN. Trường hợp cho mượn, ký cược, đặt cọc không phải nộp thuế GTGT đầu ra (vì sản phẩm cuối cùng là ga).
Thuế GTGT đầu vào của vỏ bình ga được kê khai, khấu trừ theo quy định tại Tiết c, Điểm 1, Mục III, Phần B, Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính. Căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của vỏ bình ga là số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT khi mua vỏ bình ga. Đối với số thuế GTGT đầu vào của vỏ bình ga phát sinh từ 31/12/2004 trở về trước, trường hợp doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh thì không điều chỉnh lại.
2. Tính chi phí vỏ bình ga để xác định thuế TNDN:
Vỏ bình ga của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ga loại có giá trị dưới 10 triệu đồng/vỏ được coi là công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ga, các đại lý bán sỉ và bán lẻ ga đang thực hiện không thống nhất về việc hạch toán vỏ bình ga và thời gian phân bổ giá trị vỏ bình ga. Để thực hiện thống nhất trong cả nước, Bộ Tài chính quy định thời gian phân bổ giá trị đối với các loại vỏ bình đựng ga tính vào chi phí sản xuất kinh doanh tối thiểu là 05 năm.
Trường hợp các doanh nghiệp đang hạch toán vỏ bình ga như một loại TSCĐ thì phải điều chỉnh lại, hạch toán như công cụ, dụng cụ. Đối với các vỏ bình ga đã tiến hành trích khấu hao (hoặc phân bổ) mà thời gian trích khấu hao (hoặc phân bổ) còn lại dưới 05 năm thì tiếp tục phân bổ tiếp cho số năm còn lại nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc thời gian phân bổ hết toàn bộ giá trị của vỏ bình ga không dưới 05 năm.
Bộ Tài chính hướng dẫn để Cục thuế các địa phương biết và thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có phát sinh vướng mắc, đề nghị các Cục thuế báo cáo về Bộ Tài chính để kịp thời giải quyết.
| Trương Chí Trung (Đã ký) |
- 1 Công văn số 792TCT/NV6 ngày 5/03/2003 của Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính về việc thuế GTGT đối với tiền đặt cọc vỏ bình ga
- 2 Công văn về việc giá tính thuế vỏ bình ga nhập khẩu
- 3 Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành