Giới thiệu chung về Công văn 8105/BKHĐT-TCTT
Công văn 8105/BKHĐT-TCTT năm 2022 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành là văn bản hành chính quan trọng nhằm tham gia ý kiến về việc xác định hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại cho năm 2023. Văn bản này đóng vai trò phối hợp liên bộ (đặc biệt là với Bộ Tài chính) nhằm đảm bảo công tác quản lý nợ công được thực hiện an toàn, hiệu quả, tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ tiêu an toàn nợ công đã được Quốc hội phê duyệt và các quy định của Luật Quản lý nợ công.
Hạn mức bảo lãnh Chính phủ năm 2023
Về hạn mức bảo lãnh Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhấn mạnh các nguyên tắc và định hướng quản lý sau:
- Kiểm soát chặt chẽ đối tượng được bảo lãnh: Việc cấp bảo lãnh Chính phủ trong năm 2023 tiếp tục được thực hiện theo hướng siết chặt quy mô, chỉ tập trung vào các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia, dự án hạ tầng quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ.
- Khống chế tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh: Tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ được kiểm soát trong giới hạn an toàn, đảm bảo không vượt quá tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của năm trước và nằm trong tổng hạn mức nợ công đã được phê duyệt cho giai đoạn 5 năm.
- Đánh giá năng lực tài chính của chủ đầu tư: Yêu cầu thẩm định nghiêm ngặt phương án tài chính của các dự án đề nghị bảo lãnh, đảm bảo chủ đầu tư có đủ năng lực đối ứng và khả năng trả nợ, tránh phát sinh nghĩa vụ nợ dự phòng cho ngân sách nhà nước.
Hạn mức vay về cho vay lại năm 2023
Đối với hạn mức vay về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ, văn bản định hướng các nội dung cốt lõi:
- Phân bổ vốn cho vay lại hợp lý: Ưu tiên bố trí hạn mức cho vay lại đối với các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương (thông qua Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các doanh nghiệp nhà nước thực hiện các dự án trọng điểm thuộc lĩnh vực năng lượng, giao thông, môi trường.
- Đảm bảo hạn mức nợ của chính quyền địa phương: Việc cho vay lại đối với các địa phương phải căn cứ vào hạn mức dư nợ vay của ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Luật Quản lý nợ công, đảm bảo địa phương có đủ nguồn thu để bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay: Tăng cường giám sát quá trình giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn vay về cho vay lại, hạn chế tối đa tình trạng chậm trễ trong triển khai dự án gây lãng phí nguồn lực và phát sinh chi phí cam kết.
Nguyên tắc phối hợp và tổ chức thực hiện
Để triển khai hiệu quả các hạn mức nêu trên trong năm 2023, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất các giải pháp phối hợp:
- Sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính: Hai cơ quan cần thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình giải ngân vốn đầu tư công, tiến độ thực hiện các dự án sử dụng vốn vay nước ngoài để điều chỉnh hạn mức một cách linh hoạt, phù hợp với thực tế phát sinh.
- L lồng ghép với kế hoạch đầu tư công trung hạn: Các khoản vay về cho vay lại và bảo lãnh Chính phủ phải được xem xét trong tổng thể kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 nhằm đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ trong quản lý đầu tư phát triển.
- Tăng cường công tác báo cáo, giám sát: Các đơn vị sử dụng vốn có trách nhiệm báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện dự án và nghĩa vụ trả nợ, làm cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá mức độ an toàn tài chính và kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh.
| BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 8105/BKHĐT-TCTT | Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2022 |
Kính gửi: Bộ Tài chính
Phúc đáp văn bản số 10927/BTC-QLN ngày 24/10/2022 của Quý Bộ về việc có ý kiến đối với dự thảo Tờ trình Chính phủ hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2023, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:
1. Về ý kiến chung
- Theo Luật Quản lý nợ công 2017 Tại điểm d khoản 1 Điều 15 quy định Bộ Tài chính “Xây dựng, trình Chính phủ quyết định hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ hàng năm”.
- Tại điểm 1 khoản 1 Điều 15 quy định Bộ Tài chính “Thực hiện cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ”.
- Tại điểm e khoản 1 Điều 48 quy định Bộ Tài chính “Tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền về tình hình cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ”.
Vì vậy, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với thông tin, số liệu báo cáo về hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ năm 2022 và dự kiến 2023.
2. Về tình hình thực hiện hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2022
a) Về bảo lãnh Chính phủ năm 2022 (trang 1-3)
(1) Theo báo cáo của Quý Bộ, tính đến hết 30/9/2022, tình hình thực hiện phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh của 02 ngân hàng chính sách đạt thấp so với hạn mức cấp có thẩm quyền đã phê duyệt (Ngân hàng Chính sách xã hội: 27%; Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 0%). Do đó, đề nghị Quý Bộ:
Cập nhật tình hình phát hành trái phiếu Chính phủ bảo lãnh của 02 ngân hàng chính sách đến hết tháng 10 năm 2022, trên cơ sở đó đánh giá lại việc thực hiện nhiệm vụ phát hành trái phiếu Chính phủ theo nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ giao trong năm 2022
Làm rõ các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ thực hiện đạt thấp nêu trên, đồng thời bổ sung các bài học kinh nghiệm để bảo đảm tính khả thi và sát thực tiễn hơn khi xây dựng kế hoạch năm 2023 cũng như các năm tiếp theo.
(2) Đề nghị Quý Bộ bổ sung dự kiến tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ năm 2022 và so sánh với tốc độ tăng GDP năm 2021 để từ đó đánh giá việc thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 24 Luật Quản lý nợ công.
b) Về tình hình thực hiện hạn mức cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ (trang 3-4)
Đề nghị bổ sung thông tin, số liệu về tình hình trả nợ cho vay lại từ nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ năm 2022 đến thời điểm báo cáo và ước thực hiện tới hết 31/12/2022.
3. Về dự kiến hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2023
Về nguyên tắc xây dựng hạn mức bảo lãnh Chính phủ (trang 4-5): Đề nghị bổ sung căn cứ tình hình thực hiện bảo lãnh Chính phủ năm 2022; khả năng cân đối nguồn lực tự có của 02 ngân hàng chính sách trong việc trả nợ gốc trái phiếu đến hạn để đề xuất hạn mức phù hợp, bảo đảm sử dụng tiết kiệm hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước cấp bù lãi suất đối với 02 ngân hàng chính sách nêu trên.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư kính gửi Quý Bộ để nghiên cứu, tổng hợp./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Quyết định 583/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và hạn mức vay nợ năm 2017 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Nghị quyết 32/NQ-CP về hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2021 do Chính phủ ban hành
- 3 Quyết định 1813/QĐ-NHNN năm 2022 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 4 Nghị quyết 11/NQ-CP về hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2023 do Chính phủ ban hành
- 1 Luật Quản lý nợ công 2017
- 2 Quyết định 583/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và hạn mức vay nợ năm 2017 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Nghị quyết 32/NQ-CP về hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2021 do Chính phủ ban hành
- 4 Nghị quyết 26/NQ-CP về hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2022 do Chính phủ ban hành
- 5 Quyết định 1813/QĐ-NHNN năm 2022 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 6 Nghị quyết 11/NQ-CP về hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2023 do Chính phủ ban hành