Tổng quan về Công văn 85/TCT-QLN năm 2019
Công văn 85/TCT-QLN do Tổng cục Thuế ban hành năm 2019 hướng dẫn về việc xử lý, thu hồi tiền thuế nợ trong trường hợp bên thứ ba (tổ chức, cá nhân khác) đang nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế có nợ thuế. Đây là một trong những biện pháp cưỡng chế hành chính thuế quan trọng nhằm bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế.
Điều kiện áp dụng biện pháp thu hồi nợ thuế từ bên thứ ba
Biện pháp thu tiền thuế nợ từ tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Cơ quan thuế có thông tin, tài liệu xác định chính xác về việc tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ tiền, tài sản hoặc có khoản nợ đến hạn thanh toán cho đối tượng bị cưỡng chế thuế.
- Các biện pháp cưỡng chế trước đó (như trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng) không thể thực hiện được hoặc đã thực hiện nhưng chưa thu đủ số tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước.
- Số tiền, tài sản do bên thứ ba nắm giữ phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người nộp thuế đang nợ thuế hoặc là khoản nợ phải trả cho người nợ thuế.
Thủ tục và quy trình thực hiện thu hồi nợ thuế
Quy trình thực hiện thu hồi nợ thuế từ bên thứ ba được tiến hành chặt chẽ theo các bước sau:
- Xác minh thông tin: Cơ quan thuế tiến hành xác minh, thu thập thông tin về các khoản tiền, tài sản của người nợ thuế do bên thứ ba đang nắm giữ hoặc các khoản nợ mà bên thứ ba phải trả cho người nợ thuế.
- Ban hành quyết định cưỡng chế: Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế ban hành Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ.
- Gửi quyết định cưỡng chế: Quyết định cưỡng chế được gửi cho đối tượng bị cưỡng chế, bên thứ ba đang nắm giữ tiền, tài sản và các cơ quan liên quan để phối hợp thực hiện.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đang nắm giữ tiền, tài sản của người nợ thuế
Công văn hướng dẫn rõ trách nhiệm pháp lý của bên thứ ba khi nhận được quyết định cưỡng chế từ cơ quan thuế:
- Phải nộp thay số tiền thuế nợ của đối tượng bị cưỡng chế vào ngân sách nhà nước tối đa bằng số tiền, giá trị tài sản mà mình đang nắm giữ hoặc khoản nợ đến hạn phải trả cho người nợ thuế.
- Không được chuyển giao tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế thay hoặc quyết định cưỡng chế hết hiệu lực.
- Trường hợp không chấp hành quyết định cưỡng chế mà vẫn chuyển giao tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế thì bên thứ ba sẽ bị liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số tiền thuế nợ đó theo quy định của pháp luật.
Tổ chức thực hiện và phối hợp công tác
Để đảm bảo tính hiệu quả của công tác thu hồi nợ thuế, Tổng cục Thuế yêu cầu:
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường rà soát, phân loại nợ thuế và áp dụng đúng quy trình cưỡng chế theo quy định.
- Đẩy mạnh công tác phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, cơ quan công an và các tổ chức, cá nhân liên quan để kịp thời phong tỏa, khấu trừ và thu hồi tiền thuế nợ.
- Xử lý nghiêm các trường hợp cố tình trì hoãn, tẩu tán tài sản hoặc không hợp tác thực hiện quyết định cưỡng chế của cơ quan thuế.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 85/TCT-QLN | Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2019 |
Kính gửi: Cục Thuế thành phố Đà Nẵng
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 3912/CT-QLN ngày 3/10/2018 của Cục Thuế TP. Đà Nẵng về việc vướng mắc xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ; công văn số 4374/CT-QLN ngày 8/11/2018 về việc cung cấp tài liệu liên quan đến cưỡng chế thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Điều 49 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế quy định:
“Điều 49. Nguyên tắc thu tiền, tài sản từ bên thứ ba đang giữ tài sản của đối tượng bị cưỡng chế
1. Bên thứ ba có khoản nợ đến hạn phải trả đối tượng bị cưỡng chế hoặc đang giữ tiền, tài sản, hàng hóa của đối tượng bị cưỡng chế.
2. Trường hợp tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do bên thứ ba đang giữ là đối tượng của các giao dịch bảo đảm hoặc thuộc trường hợp giải quyết phá sản thì việc thu tiền, tài sản từ bên thứ ba được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản và giao dịch bảo đảm.”
- Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng quy định:
“Điều 12. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm
Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm.
Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm thực hiện theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ các quy định trên, Trường hợp khoản phải thu phát sinh từ Hợp đồng thi công xây dựng số 62/2009/HĐ-KH ngày 4/11/2009 được ký kết giữa Công ty VNECO 6 và Ban QLDA lưới điện TP. HCM theo Hợp đồng thế chấp số 003/2012/HĐTC ngày 5/11/2012 giữa Công ty cổ phần xây dựng điện VNEC06 và Ngân hàng TMCP ĐT và PT Việt Nam chi nhánh Hải Vân là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng thì được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ (khoản vay) bên Ngân hàng rồi mới thanh toán số tiền nợ bên cơ quan thuế theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 nêu trên.
Tổng cục Thuế có ý kiến để Cục Thuế thành phố Đà Nẵng được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn 9046/TCHQ-TXNK năm 2015 về chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế tiền thuế nợ do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2 Công văn 5369/TCT-QLN năm 2015 về không tính chậm nộp tiền thuế và cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 6903/TCHQ-TXNK năm 2017 về nộp dần tiền thuế nợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sumo Việt Nam do Tổng cục Hải quan ban hành
- 4 Công văn 108/TCT-QNL năm 2019 về xóa tiền thuế nợ do Tổng cục Thuế ban hành
- 5 Công văn 85/TCT-QNL năm 2019 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 6 Công văn 3111/TCHQ-TXNK năm 2019 về xử lý nợ thuế do Tổng cục Hải quan ban hành
- 7 Công văn 2837/TCT-QLN năm 2019 về xử lý tiền thuế nợ trong thời gian khiếu kiện do Tổng cục Thuế ban hành
- 8 Công văn 2562/TCT-QLN năm 2020 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 9 Công văn 5258/TCT-QLN năm 2020 về đôn đốc thu tiền thuế nợ do Tổng cục Thuế ban hành
- 1 Nghị định 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- 2 Công văn 9046/TCHQ-TXNK năm 2015 về chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế tiền thuế nợ do Tổng cục Hải quan ban hành
- 3 Công văn 5369/TCT-QLN năm 2015 về không tính chậm nộp tiền thuế và cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 4 Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành
- 5 Công văn 6903/TCHQ-TXNK năm 2017 về nộp dần tiền thuế nợ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sumo Việt Nam do Tổng cục Hải quan ban hành
- 6 Công văn 108/TCT-QNL năm 2019 về xóa tiền thuế nợ do Tổng cục Thuế ban hành
- 7 Công văn 85/TCT-QNL năm 2019 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 8 Công văn 3111/TCHQ-TXNK năm 2019 về xử lý nợ thuế do Tổng cục Hải quan ban hành
- 9 Công văn 2837/TCT-QLN năm 2019 về xử lý tiền thuế nợ trong thời gian khiếu kiện do Tổng cục Thuế ban hành
- 10 Công văn 2562/TCT-QLN năm 2020 về xử lý thu tiền thuế nợ do tổ chức, cá nhân khác nắm giữ do Tổng cục Thuế ban hành
- 11 Công văn 5258/TCT-QLN năm 2020 về đôn đốc thu tiền thuế nợ do Tổng cục Thuế ban hành